Đề mục 2 các cấp và các loại tòa án khác nhau (Điều 1417-1445)

Điều 1417

§1. Vì lý do quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng Rôma, bất cứ tín hữu nào cũng có trọn quyền đệ trình hay khởi tố lên Tòa Thánh để Tòa Thánh xét xử một vụ án có tính cách hộ sự hay hình sự của mình, trong bất cứ cấp xét xử nào và trong bất cứ giai đoạn tố tụng nào.
§2. Tuy nhiên, ngoại trừ trường hợp kháng cáo, việc kiến nghị lên Tông Tòa không đình hoãn việc thi hành quyền tài phán của thẩm phán đã bắt đầu xét xử vụ án; vì thế, thẩm phán ấy có thể tiếp tục xét xử cho đến khi tuyên án chung quyết, trừ khi Tông Tòa cho thẩm phán biết Tông tòa đã dành vụ án cho mình.

Canon 1417

§1 Because of the primacy of the Roman Pontiff, any of the faithful may either refer their case to, or introduce it before, the Holy See, whether the case be contentious or penal. They may do so at any grade of trial or at any stage of the suit.
§2 Apart from the case of an appeal, a referral to the Apostolic See does not suspend the exercise of jurisdiction of a judge who has already begun to hear a case. The judge can, therefore, continue with the trial up to the definitive judgement, unless the Apostolic See has indicated to him that it has reserved the case to itself.

Điều 1418

Bất cứ tòa án nào cũng có quyền yêu cầu một tòa án khác giúp thẩm vấn một vụ án hoặc thông báo các án từ.

Canon 1418

Every tribunal has the right to call on other tribunals for assistance in instructing a case or in communicating acts.

Điều 1419

§1. Trong mỗi giáo phận và cho mọi vụ kiện không bị luật minh nhiên loại trừ, thẩm phán của tòa án cấp một là Giám Mục giáo phận, ngài có thể đích thân hay nhờ người khác thi hành quyền xét xử, theo các điều khoản sau đây.
§2. Nhưng nếu vụ án có liên quan đến những quyền lợi hay những tài sản vật chất của một pháp nhân do Giám Mục đại diện, thì tòa kháng cáo xét xử như tòa án cấp một.

Canon 1419

§1 In each diocese and for all cases which are not expressly excepted in law, the judge of first instance is the diocesan Bishop. He can exercise his judicial power either personally or through others, in accordance with the following canons.
§2 If the case concerns the rights or temporal goods of a juridical person represented by the Bishop, the appeal tribunal is to judge in first instance.

Điều 1420

§1. Bất cứ Giám Mục giáo phận nào cũng buộc phải đặt một vị Đại Diện tư pháp hay Ủy Viên tài phán có thường quyền xét xử, vị này phải khác với Tổng Đại Diện, ngoại trừ trường hợp giáo phận nhỏ hẹp hay số vụ án quá ít khuyên nên làm cách khác.
§2. Vị Đại Diện tư pháp thiết lập một tòa án duy nhất cùng với Giám Mục nhưng không được xét xử những vụ án mà Giám Mục dành riêng cho mình.
§3. Có thể cấp cho vị Đại Diện tư pháp nhiều phụ tá gọi là phó Đại Diện tư pháp hay là phó Uỷ Viên tài phán.
§4. Đại Diện tư pháp cũng như phó Đại Diện tư pháp phải là tư tế có thanh danh, có bằng tiến sĩ hay ít nhất cử nhân giáo luật, và không dưới ba mươi tưổi.
§5. Khi tòa giám mục khuyết vị, những vị ấy vẫn tiếp tục chức vụ, và không thể bị Giám Quản giáo phận giải nhiệm; nhưng khi có Giám Mục mới, các vị ấy cần được xác nhận lại.

Canon 1420

§1 Each diocesan Bishop is obliged to appoint a judicial Vicar, or ‘Officialis’, with ordinary power to judge. The judicial Vicar is to be a person distinct from the Vicar general, unless the smallness of the diocese or the limited number of cases suggests otherwise.
§2 The judicial Vicar constitutes one tribunal with the Bishop, but cannot judge cases which the Bishop reserves to himself.
§3 The judicial Vicar can be given assistants, who are called associate judicial Vicars or ‘Vice-officiales’. [On the relationship of associate judicial vicars to the judicial vicar, see Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 16605/2019, 18.III.2019]
§4 The judicial Vicar and the associate judicial Vicars must be priests of good repute, with a doctorate or at least a licentiate in canon law, and not less than thirty years of age.
§5 When the see is vacant, they do not cease from office, nor can they be removed by the diocesan Administrator. On the coming of the new Bishop, however, they need to be confirmed in office.

Điều 1421

§1. Trong giáo phận, Giám Mục phải đặt các thẩm phán giáo phận, các vị này phải là giáo sĩ.
§2. Hội Đồng Giám Mục có thể cho phép đặt cả giáo dân làm thẩm phán, và nếu cần thì một trong những người ấy có thể được chọn để thành lập thẩm phán đoàn.
§3. Các thẩm phán phải có thanh danh và có bằng tiến sĩ hay ít nhất là cử nhân giáo luật.

Canon 1421

§1 In each diocese the Bishop is to appoint diocesan judges, who are to be clerics.
§2 The Episcopal Conference can permit that lay persons also be appointed judges. Where necessity suggests, one of these can be chosen in forming a college of Judges. [The revised canon 1673
§3, following Mitis Iudex Dominus Iesus, states that in a college of three judges in marriage nullity cases, two of the judges may be laypersons, although the one who presides over the college must be a cleric]
§3 Judges are to be of good repute, and possess a doctorate, or at least a licentiate, in canon law. [Regarding proof of the possession of a doctorate or licentiate in canon law, see Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 17263/2020, 7.XII.2020]

Điều 1422

Đại Diện tư pháp, các phó Đại Diện tư pháp và các thẩm phán khác được bổ nhiệm cho một thời gian nhất định, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1420
§5, và các vị ấy không thể bị giải nhiệm, trừ khi có lý do hợp pháp và nghiêm trọng.

Canon 1422

The judicial Vicar, the associate judicial Vicars and the other judges are appointed for a specified period of time, without prejudice to the provision of can. 1420
§5. They cannot be removed from office except for a lawful and grave reason.

Điều 1423

§1. Thay vì thiết lập các tòa án giáo phận theo các điều 1419-1421, nhiều Giám Mục giáo phận với sự chuẩn y của Tông Toà, có thể đồng ý với nhau để thiết lập một tòa án cấp một duy nhất cho các giáo phận của mình; trong trường hợp này, tập thể các Giám Mục ấy hay một Giám Mục được các ngài chỉ định có mọi quyền mà mỗi Giám Mục giáo phận có đối với toà án của mình.
§2. Các tòa án nói ở
§1 có thể được thiết lập hoặc cho bất cứ vụ án nào, hoặc chỉ cho một vài loại vụ án nào đó mà thôi.

Canon 1423

§1 With the approval of the Apostolic See, several diocesan Bishops can agree to establish one tribunal of first instance in their dioceses, in place of the diocesan tribunals mentioned in cann. 1419-1421. In this case the group of Bishops, or a Bishop designated by them, has all the powers which the diocesan Bishop has for his tribunal.
§2 The tribunals mentioned in
§1 can be established for all cases, or for some types of cases only.

Điều 1424

Trong bất cứ vụ xét xử nào, vị thẩm phán duy nhất có thể mời hai hội thẩm là giáo sĩ hay giáo dân có đời sống liêm khiết làm cố vấn cho mình.

Canon 1424

In any trial a sole judge can associate with himself two assessors as advisers; they may be clerics or lay persons of good repute.

Điều 1425

§1. Phải loại bỏ tục lệ trái ngược và dành cho tòa án gồm ba thẩm phán:1° những vụ án hộ sự về: a) dây ràng buộc do chức thánh; b) dây ràng buộc do hôn nhân, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1686 và 1688;2° những vụ hình sự: a) về những tội phạm có thể đưa đến hình phạt sa thải khỏi bậc giáo sĩ; b) về việc tuyên kết hay tuyên bố vạ tuyệt thông;
§2. Giám Mục có thể ủy thác những vụ án khó hơn hay quan trọng hơn cho tòa án gồm ba hay năm thẩm phán.
§3. Đại Diện tư pháp phải mời các thẩm phán theo thứ tự luân phiên để xét xử từng vụ án một, trừ khi Giám Mục ấn định cách khác cho mỗi trường hợp.
§4. Trong việc xét xử ở cấp một, nếu không thể thiết lập thẩm phán đoàn, bao lâu tình trạng bất khả thi ấy còn kéo dài, thì Hội Đồng Giám Mục có thể cho phép ủy thác các vụ án cho một thẩm phán giáo sĩ duy nhất, và nơi nào có thể được, vị này phải mời một hội thẩm và một dự thẩm giúp mình.
§5. Một khi các thẩm phán đã được chỉ định rồi, Đại Diện tư pháp đừng thay thế họ, nếu không vì một lý do rất nghiêm trọng cần phải ghi trong sắc lệnh.

Canon 1425

§1 The following matters are reserved to a collegiate tribunal of three judges, any contrary custom being reprobated:1° contentious cases: a) concerning the bond of sacred ordination; b) concerning the bond of marriage, without prejudice to the provisions of cann. 1686* and 1688*; [*Following Mitis Iudex Dominus Iesus the relevant provisions are now can. 1688 and can. 1690 respectively]2° penal cases: a) for offences which can carry the penalty of dismissal from the clerical state; b) concerning the imposition or declaration of an excommunication.
§2 The Bishop can entrust the more difficult cases or those of greater importance to the judgement of three or of five judges.
§3 The judicial Vicar is to assign judges in order by rotation to hear the individual cases, unless in particular cases the Bishop has decided otherwise.
§4 In a trial at first instance, if it should happen that it is impossible to constitute a college of judges, the Episcopal Conference can for as long as the impossibility persists, permit the Bishop to entrust cases to a sole clerical judge. Where possible, the sole judge is to associate with himself an assessor and an auditor.
§5 Once judges have been designated, the judicial Vicar is not to replace them, except for a very grave reason, which must be expressed in a decree.

Điều 1426

§1. Tòa án hiệp đoàn phải tiến hành cách tập thể và phải tuyên án theo đa số phiếu.
§2. Trong mức độ có thể, Đại Diện tư pháp hay phó Đại Diện tư pháp phải chủ tọa tòa án nói trên.

Canon 1426

§1 A collegiate tribunal must proceed in a collegiate fashion and give its judgement by majority vote.
§2 As far as possible, the judicial Vicar or an associate judicial Vicar must preside over the collegiate tribunal.

Điều 1427

§1. Nếu có tranh chấp giữa các tu sĩ hay giữa các nhà của cùng một hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng, trừ khi hiến pháp đã dự liệu cách khác, thì thẩm phán của tòa án cấp một là Bề Trên tỉnh dòng hoặc là Viện Phụ sở tại, nếu là đan viện tự trị.
§2. Nếu là tranh chấp hộ sự giữa hai tỉnh dòng thì chính vị Điều Hành tổng quyền tự mình hay là nhờ người thụ ủy xét xử ở cấp một; nếu là tranh chấp hộ sự giữa hai đan viện, Viện Phụ Bề Trên của hiệp hội đan viện sẽ xét xử, trừ khi hiến pháp quy định cách khác.
§3. Cuối cùng, nếu là tranh chấp giữa các thể nhân hoặc pháp nhân dòng thuộc các hội dòng khác nhau, hoặc thuộc cùng một hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo phận hay thuộc một tu hội giáo dân hoặc giữa một tu sĩ và một giáo sĩ triều hay một giáo dân hay một pháp nhân không thuộc hội dòng, thì tòa án giáo phận sẽ xét xử ở cấp một.

Canon 1427

§1 If there is a controversy between religious, or houses of the same clerical religious institute of pontifical right, the judge at first instance, unless the constitutions provide otherwise, is the provincial Superior or, if an autonomous monastery is concerned, the local Abbot.
§2 Without prejudice to a different provision in the constitutions, when a contentious matter arises between two provinces, the supreme Moderator, either personally or through a delegate, will be the judge at first instance. If the controversy is between two monasteries, the Abbot superior of the monastic congregation will be the judge.
§3 Finally, if a controversy arises between physical or juridical persons of different religious institutes or even of the same clerical institute of diocesan right or of the same lay institute, or between a religious person and a secular cleric or a lay person or a non-religious juridical person, it is the diocesan tribunal which judges at first instance.

Điều 1428

§1. Để thẩm cứu vụ án, vị thẩm phán hay vị chánh án hiệp đoàn có thể chỉ định một dự thẩm được lựa chọn hoặc trong số các thẩm phán của tòa án hoặc trong số những người đã được Giám Mục chuẩn nhận để giữ nhiệm vụ ấy.
§2. Giám Mục có thể chuẩn nhận những giáo sĩ hay giáo dân nổi bật về hạnh kiểm tốt, về khôn ngoan và đạo lý để giữ nhiệm vụ dự thẩm.
§3. Theo sự ủy nhiệm của thẩm phán, nhiệm vụ của dự thẩm là chỉ thu thập các bằng chứng và trao cho vị thẩm phán những bằng chứng đã thu thập được; nhưng nếu ủy nhiệm của thẩm phán không định ngược lại, dự thẩm có thể quyết định trong khi thẩm cứu phải thu nhập những bằng chứng nào và bằng cách nào, nếu tình cờ có vấn đề như thế xảy ra, trong khi thi hành nhiệm vụ của mình.

Canon 1428

§1 The judge or, in the case of a collegiate tribunal, the presiding judge, can designate an auditor to instruct the case. The auditor may be chosen from the tribunal judges, or from persons approved by the Bishop for this office.
§2 The Bishop can approve clerics or lay persons for the role of auditor. They are to be persons conspicuous for their good conduct, prudence and learning.
§3 The task of the auditor is solely to gather the evidence in accordance with the judge’s commission and, when gathered, to submit it to the judge. Unless the judge determines otherwise, however, an auditor can in the meantime decide what evidence is to be collected and the manner of its collection, should any question arise about these matters while the auditor is carrying out his role.

Điều 1429

Vị chánh án tòa án hiệp đoàn phải chỉ định một trong những thẩm phán của hiệp đoàn làm báo cáo viên hay phúc trình viên; vị này sẽ tường trình vụ án trong phiên họp của các thẩm phán, và dự thảo án văn trên giấy tờ; khi có lý do chính đáng, vị chánh án tòa án có thể thay thế người ấy bằng một người khác.

Canon 1429

The presiding judge of a collegiate tribunal is to designate one of the judges of the college as ‘ponens’ or ‘relator’. This person is to present the case at the meeting of the judges and set out the judgement in writing. For a just reason the presiding judge can substitute another person in the place of the ‘ponens’. AND THE NOTARY

Điều 1430

Đối với những vụ án hộ sự trong đó công ích có thể bị lâm nguy cũng như đối với những vụ án hình sự, phải đặt một công tố viên trong giáo phận, công tố viên có bổn phận lo cho công ích.

Canon 1430

A promotor of justice is to be appointed in the diocese for penal cases, and for contentious cases in which the public good may be at stake. The promotor is bound by office to safeguard the public good.

Điều 1431

§1. Trong các vụ án hộ sự, Giám Mục giáo phận nhận định xem công ích có thể bị lâm nguy hay không, trừ khi luật buộc công tố viên phải can thiệp hay khi sự can thiệp này là hiển nhiên cần thiết cho bản chất của sự việc.
§2. Nếu công tố viên đã can thiệp ở một cấp dưới thì sự can thiệp ấy được suy đoán là cần thiết ở cấp trên.

Canon 1431

§1 In contentious cases it is for the diocesan Bishop to decide whether the public good is at stake or not, unless the law prescribes the intervention of the promotor of justice, or this is clearly necessary from the nature of things.
§2 If the promotor of justice has intervened at an earlier instance of a trial, this intervention is presumed to be necessary at a subsequent instance.

Điều 1432

Đối với các vụ án liên quan đến sự vô hiệu của việc truyền chức thánh hoặc liên quan đến sự vô hiệu hay sự phân ly của hôn nhân, phải đặt một bảo hệ viên trong giáo phận, vị này có bổn phận phải đề nghị và trình bày tất cả những gì có thể được dẫn chứng cách hợp lý để chống lại sự vô hiệu hay sự phân ly.

Canon 1432

A defender of the bond is to be appointed in the diocese for cases which deal with the nullity of ordination or the nullity or dissolution of marriage. The defender of the bond is bound by office to present and expound all that can reasonably be argued against the nullity or dissolution.

Điều 1433

Trong những vụ án đòi buộc công tố viên hay bảo hệ viên phải hiện diện, nếu những người này không được triệu tập đến, các án từ đều vô giá trị, trừ khi chính họ, mặc dù không được triệu tập đến, nhưng sự thực đã có mặt, hoặc ít nhất họ đã có thể thi hành nhiệm vụ của mình trước khi tuyên án bằng việc khảo sát các án từ.

Canon 1433

In cases in which the presence of the promotor of justice or of the defender of the bond is required, the acts are invalid if they were not summoned. This does not apply if, although not summoned, they were in fact present or, having studied the acts, able to fulfil their role at least before the judgement.

Điều 1434

Trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác:1° mỗi khi luật quy định thẩm phán phải nghe hai bên hoặc một trong hai, thì cũng phải nghe công tố viên và bảo hệ viên, nếu các vị này tham gia vào việc xử án;2° mỗi khi đòi phải có lời yêu cầu của một bên để thẩm phán có thể quyết định một vấn đề gì, thì sự yêu cầu của công tố viên hay bảo hệ viên tham gia vào việc xử án cũng có hiệu lực như vậy.

Canon 1434

Unless otherwise expressly provided:1° whenever the law directs that the judge is to hear the parties or either of them, the promotor of justice and the defender of the bond are also to be heard if they are present;2° whenever, at the submission of a party, the judge is required to decide some matter, the submission of the promotor of justice or of the defender of the bond engaged in the trial has equal weight.

Điều 1435

Giám Mục bổ nhiệm công tố viên và bảo hệ viên, dù là giáo sĩ hay giáo dân, các vị này phải có thanh danh, có bằng tiến sĩ hay cử nhân giáo luật, khôn ngoan và nhiệt thành với công lý.

Canon 1435

It is the Bishop’s responsibility to appoint the promotor of justice and defender of the bond. They are to be clerics or lay persons of good repute, with a doctorate or a licentiate in canon law, and of proven prudence and zeal for justice. [Regarding proof of the possession of a doctorate or licentiate in canon law, see Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 17263/2020, 7.XII.2020]

Điều 1436

§1. Một người có thể vừa giữ chức vụ công tố viên vừa giữ chức vụ bảo hệ viên, miễn là không phải trong cùng một vụ án.
§2. Công tố viên và bảo hệ viên có thể được đặt lên để làm việc trong mọi vụ án hay là trong từng vụ án, nhưng các vị này có thể bị Giám Mục bãi nhiệm vì lý do chính đáng.

Canon 1436

§1 The same person can hold the office of promotor of justice and defender of the bond, although not in the same case.
§2 The promotor of justice and the defender of the bond can be appointed for all cases, or for individual cases. They can be removed by the Bishop for a just reason.

Điều 1437

§1. Công chứng viên phải tham gia bất cứ vụ tố tụng nào, vì thế, các án từ sẽ vô hiệu, nếu không có chữ ký của công chứng viên.
§2. Các án từ do công chứng viên soạn thảo có giá trị công tín.

Canon 1437

§1 A notary is to be present at every hearing, so much so that the acts are null unless signed by the notary.
§2 Acts drawn up by notaries constitute public proof.

Điều 1438

Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1444
§1, 10:1° việc kháng cáo được thực hiện từ tòa án của Giám Mục thuộc giáo tỉnh lên tòa án của Tổng Giám Mục giáo tỉnh, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1439;2° trong những vụ án đã được xét xử ở tòa án cấp một trước mặt Tổng Giám Mục giáo tỉnh, phải kháng cáo lên tòa án ngài đã định cách cố định, với sự chuẩn y của Tông Tòa;3° đối với những vụ án đã được xét xử trước mặt Bề Trên tỉnh dòng, thì tòa án cấp hai là tòa án của vị Điều Hành tổng quyền; đối với những vụ án đã được xét xử trước mặt Viện Phụ sở tại, thì tòa án cấp hai là tòa án của Viện Phụ Bề Trên hiệp hội đan viện.

Canon 1438

Without prejudice to the provision of can. 1444
§1, n. 1:1° an appeal from the tribunal of a suffragan Bishop is to the metropolitan tribunal, without prejudice to the provisions of can. 1439.2° in cases heard at first instance in the tribunal of the Metropolitan, the appeal is to a tribunal which the Metropolitan, with the approval of the Apostolic See, has designated in a stable fashion;3° for cases dealt with before a provincial Superior, the tribunal of second instance is that of the supreme Moderator; for cases heard before the local Abbot, the second instance court is that of the Abbot superior of the monastic congregation.

Điều 1439

§1. Nếu chỉ có một tòa án cấp một duy nhất được thiết lập chung cho nhiều giáo phận chiếu theo quy tắc của điều 1423, thì Hội Đồng Giám Mục phải thiết lập tòa án cấp hai với sự chuẩn y của Tông Tòa, trừ khi tất cả các giáo phận đó đều thuộc về cùng một tổng giáo phận.
§2. Với sự chuẩn y của Tông Tòa, Hội Đồng Giám Mục có thể thiết lập một hay nhiều tòa án cấp hai, kể cả ngoài những trường hợp nói ở
§1.
§3. Đối với những tòa án cấp hai nói ở §
§1 và 2, Hội Đồng Giám Mục hay Giám Mục đã được Hội Đồng Giám Mục chỉ định, có tất cả quyền hành mà Giám Mục giáo phận có đối với tòa án của mình.

Canon 1439

§1 If a single tribunal of first instance has been constituted for several dioceses, in accordance with the norm of can. 1423, the Episcopal Conference must, with the approval of the Holy See, constitute a tribunal of second instance, unless the dioceses are all suffragans of the same archdiocese.
§2 Even apart from the cases mentioned in
§1, the Episcopal Conference can, with the approval of the Apostolic See, constitute one or more tribunals of second instance.
§3 In respect of the second instance tribunals mentioned in §
§1-2, the Episcopal Conference, or the Bishop designated by it, has all the powers that belong to a diocesan Bishop in respect of his own tribunal.

Điều 1440

Nếu thẩm quyền về cấp tòa án xét xử không được tuân giữ chiếu theo quy tắc của các điều 1438 và 1439, thì thẩm phán tuyệt đối vô thẩm quyền.

Canon 1440

If competence by reason of the grade of trial, in accordance with the provisions of cann. 1438 and 1439, is not observed, then the non-competence of the judge is absolute.

Điều 1441

Tòa án cấp hai phải được thiết lập cùng một thể thức như tòa án cấp một. Nhưng nếu việc xét xử ở cấp một chỉ có một thẩm phán tuyên án, chiếu theo điều 1425
§4, thì tòa án cấp hai phải tiến hành xét xử theo thể thức hiệp đoàn.

Canon 1441

The tribunal of second instance is to be constituted in the same way as the tribunal of first instance. However, if a sole judge has given a judgement in first instance in accordance with can. 1425
§4, the second instance tribunal is to act collegially.

Điều 1442

Đức Giáo Hoàng Rôma là vị thẩm phán tối cao cho toàn thế giới Công giáo, ngài đích thân xét xử hoặc qua các tòa án thông thường của Tông Tòa, hoặc qua các vị thẩm phán do ngài ủy quyền.

Canon 1442

The Roman Pontiff is the supreme judge for the whole Catholic world. He gives judgement either personally, or through the ordinary tribunals of the Apostolic See, or through judges whom he delegates.

Điều 1443

Tòa án thông thường được Đức Giáo Hoàng Rôma thiết lập để nhận những kháng cáo là tòa Thượng Thẩm Rôma.

Canon 1443

The ordinary tribunal constituted by the Roman Pontiff to receive appeals is the Roman Rota.

Điều 1444

§1. Tòa Thượng Thẩm Rôma xét xử:1° ở cấp hai, những vụ án đã được tòa án thông thường cấp một xét xử và kháng cáo hợp pháp lên Tòa Thánh. 20 ở cấp ba hay cấp cao hơn, những vụ án đã được xét xử do chính tòa Thượng Thẩm Rôma và do bất cứ tòa án nào khác, trừ khi vấn đề đã trở thành quyết tụng.
§2. Tòa án này xét xử cả ở cấp một những vụ án nói ở điều 1405
§3, hay những vụ án khác mà Đức Giáo Hoàng Rôma, hoặc do tự ý hoặc do yêu cầu của các bên, đã gọi lên xét xử tại tòa án của mình và trao cho tòa Thượng Thẩm Rôma; chính tòa Thượng Thẩm Rôma xét xử những vụ án ấy cả ở cấp hai và ở cấp cao hơn nữa, trừ khi đã dự liệu cách khác trong phúc chiếu trao nhiệm vụ.

Canon 1444

The Roman Rota judges:1° in second instance, cases which have been judged by ordinary tribunals of first instance and have been referred to the Holy See by a lawful appeal;2° in third or further instance, cases which have been processed by the Roman Rota itself or by any other tribunal, unless there is question of an adjudged matter.
§2 This tribunal also judges in first instance the cases mentioned in can. 1405
§3, and any others which the Roman Pontiff, either on his own initiative or at the request of the parties, has reserved to his tribunal and has entrusted to the Roman Rota. These cases are judged by the Rota also in second or further instances, unless the rescript entrusting the task provides otherwise. [See Praedicate Evangelium, 19.III.2022, arts. 200-204; Normae Romanae Rotae Tribunalis, 18.IV.1994]

Điều 1445

§1. Tối Cao Pháp Viện tông tòa xét xử:1° những vụ tranh chấp về sự vô hiệu, những thỉnh nguyện về sự phục hồi nguyên trạng và những vụ việc kháng nghị khác chống lại các phán quyết của tòa Thượng Thẩm Rôma;2° những trường hợp kháng nghị trong những vụ án về tình trạng nhân thân mà tòa Thượng Thẩm Rôma từ chối không xét xử lại;3° những khước biện vì nghi ngờ và những vụ án khác chống lại các dự thẩm của tòa Thượng Thẩm Rôma vì những hành động của họ trong khi thi hành chức vụ;4° những vụ tranh chấp về thẩm quyền nói ở điều 1416.
§2. Tòa án xét xử những tranh chấp phát xuất từ một hành vi của quyền hành chính trong Giáo Hội đã được đệ lên tòa cách hợp pháp, xét xử những tranh chấp khác có tính cách hành chính được Đức Giáo Hoàng Rôma hay những cơ quan của Giáo Triều Rôma trao cho tòa này thụ lý, và xét xử những tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan ấy.
§3. Ngoài ra, Tối Cao Pháp Viện này còn:1° chăm lo giữ gìn thực thi công lý cách đúng đắn, và nếu cần, tìm cách xử trí với các luật sư hay những người đại diện;2° gia hạn thẩm quyền của các tòa án;3° cổ vũ và chuẩn y việc thành lập những tòa án nói ở các điều 1423 và 1439.

Canon 1445

§1 The supreme Tribunal of the Apostolic Signatura hears:1° plaints of nullity, petitions for total reinstatement and other recourses against rotal judgements;2° recourses in cases affecting the status of persons, which the Roman Rota has refused to admit to a new examination;3° exceptions of suspicion and other cases against Auditors of the Roman Rota by reason of things done in the exercise of their office;4° the conflicts of competence mentioned in can. 1416.
§2 This same Tribunal deals with controversies which arise from an act of ecclesiastical administrative power, and which are lawfully referred to it. It also deals with other administrative controversies referred to it by the Roman Pontiff or by departments of the Roman Curia, and with conflicts of competence among these departments.
§3 This Supreme Tribunal is also competent:1° to oversee the proper administration of justice and, should the need arise, to take notice of advocates and procurators;2° to extend the competence of tribunals;3° to promote and approve the establishment of the tribunals mentioned in cann. 1423 and 1439. [See Praedicate Evangelium, 19.III.2022, arts. 194-199; m.p. Antiqua ordinatione, 11.VI.2008, arts. 101-103; Circular Letter Inter munera on the state and activity of tribunals, 30.VIII.206; m.p. Munus Tribunalis, 28.II.2024] OF THE TRIBUNAL

×

Mục Lục Giáo Luật

Vericath App

Cài đặt Vericath

Truy cập nhanh chóng và trải nghiệm mượt mà hơn trên màn hình chính của bạn.

Home