Chương 2. Các Giám Mục (Điều 375-411)

Điều 375

§1. Do sự thết lập của Thiên Chúa, các Giám Mục kế vị các Tông Đồ nhờ Chúa Thánh Thần là Đấng đã được ban cho các ngài; các ngài được đặt làm Chủ Chăn trong Giáo Hội để làm những thầy dạy học thuyết, tư tế phụng tự thánh và thừa tác viên lãnh đạo.
§2. Do chính việc tấn phong Giám Mục, ngoài nhiệm vụ thánh hóa, các Giám Mục còn lãnh nhận các nhiệm vụ giảng dạy và lãnh đạo, tuy nhiên, do bản chất của chúng, các ngài chỉ có thể thi hành những nhiệm vụ này trong sự hiệp thông phẩm trật với thủ lãnh và với mọi thành viên của Giám Mục đoàn.

Canon 375

§1 By divine institution, Bishops succeed the Apostles through the Holy Spirit who is given to them. They are constituted Pastors in the Church, to be the teachers of doctrine, the priests of sacred worship and the ministers of governance.
§2 By their episcopal consecration, Bishops receive, together with the office of sanctifying, the offices also of teaching and of ruling, which however, by their nature, can be exercised only in hierarchical communion with the head of the College and its members.

Điều 376

Các Giám Mục giáo phận là những vị được trao cho nhiệm vụ coi sóc một giáo phận; các vị khác được gọi là Giám Mục hiệu toà.

Canon 376

Bishops to whom the care of a given diocese is entrusted are called diocesan Bishops; the others are called titular Bishops.

Điều 377

§1. Đức Giáo Hoàng được tự do bổ nhiệm các Giám Mục, hoặc phê chuẩn những vị đã đắc cử cách hợp pháp.
§2. Ít là ba năm một lần, các Giám Mục thuộc giáo tỉnh, hoặc ở đâu mà hoàn cảnh khuyến khích, các Hội Đồng Giám Mục phải thoả thuận với nhau và bí mật lập một danh sách các linh mục có đủ tư cách tiến chức Giám Mục, gồm cả những thành viên thuộc các tu hội thánh hiến, để gửi về Tông Toà, miễn là vẫn tôn trọng quyền của mỗi Giám Mục trong việc thông báo riêng cho Tông Tòa biết danh tính những linh mục được ngài xét là xứng đáng và có khả năng xứng hợp với nhiệm vụ Giám Mục.
§3. Trừ khi luật đã ấn định hợp lệ cách khác, mỗi khi phải bổ nhiệm một Giám Mục giáo phận hoặc một Giám Mục phó, thì đối với danh tính ba vị được đề nghị lên Tông Toà, Đặc Sứ giáo hoàng điều tra từng vị một và thông báo cho Tông Tòa biết ý kiến riêng của mình và những ý kiến của Tổng Giám Mục và các Giám Mục trong giáo tỉnh mà giáo phận ấy trực thuộc hay được sáp nhập vào, cũng như của chủ tịch Hội Đồng Giám Mục; ngoài ra, Đặc Sứ giáo hoàng phải hỏi ý kiến những thành viên của ban tư vấn và của hội kinh sĩ nhà thờ chính toà, và nếu xét thấy thiết thực, phải bàn hỏi riêng rẽ và cách kín đáo với một số thành viên thuộc hàng giáo sĩ dòng và triều, cũng như với những giáo dân có tiếng là khôn ngoan.
§4. Trừ khi luật đã dự liệu hợp lệ cách khác, Giám Mục giáo phận nào nhận thấy cần phải đặt một Giám Mục phụ tá cho giáo phận mình, thì phải đệ trình lên Tông Tòa một danh sách ít nhất là ba linh mục có đủ tư cách nhất để lãnh nhận giáo vụ này.
§5. Từ nay, các chính quyền dân sự không còn quyền hay đặc ân bầu cử, bổ nhiệm, giới thiệu hoặc chỉ định các Giám Mục nữa.

Canon 377

§1 The Supreme Pontiff freely appoints Bishops or confirms those lawfully elected.
§2 At least every three years, the Bishops of an ecclesiastical province or, if circumstances suggest it, of an Episcopal Conference, are to draw up, by common accord and in secret, a list of priests, even of members of institutes of consecrated life, who are suitable for the episcopate; they are to send this list to the Apostolic See. This is without prejudice to the right of every Bishop individually to make known to the Apostolic See the names of priests whom he thinks are worthy and suitable for the episcopal office.
§3 Unless it has been lawfully prescribed otherwise, for the appointment of a diocesan Bishop or a coadjutor Bishop, a ternus, as it is called, is to be proposed to the Apostolic See. In the preparation of this list, it is the responsibility of the papal Legate to seek individually the suggestions of the Metropolitan and of the Suffragans of the province to which the diocese in question belongs or with which it is joined in some grouping, as well as the suggestions of the president of the Episcopal Conference. The papal Legate is, moreover, to hear the views of some members of the college of consultors and of the cathedral chapter. If he judges it expedient, he is also to seek individually, and in secret, the opinions of other clerics, both secular and religious, and of lay persons of outstanding wisdom. He is then to send these suggestions, together with his own opinion, to the Apostolic See.
§4 Unless it has been lawfully provided otherwise, the diocesan Bishop who judges that his diocese requires an auxiliary Bishop, is to propose to the Apostolic See a list of the names of at least three priests suitable for this office .
§5 For the future, no rights or privileges of election, appointment, presentation or designation of Bishops are conceded to civil authorities.

Điều 378

§1. Để được coi là có khả năng xứng hợp tiến chức Giám Mục, đương sự cần phải;1° trổi vượt về đức tin vững vàng, hạnh kiểm tốt, đạo đức, nhiệt thành với các linh hồn, thông thái, khôn ngoan và các nhân đức nhân bản, và có những tài năng khác giúp mình đủ sức chu toàn giáo vụ;2° có thanh danh;3° được ít nhất là ba mươi lăm tuổi;4° là linh mục ít nhất là năm năm;5° có học vị tiến sĩ, hoặc ít nhất là cử nhân Thánh Kinh, thần học hoặc giáo luật trong một học viện cao đẳng được Tông Tòa công nhận hoặc ít ra phải thực sự thông thạo về những môn đó.
§2. Sự phán quyết tối hậu về khả năng xứng đáng của ứng viên được tiến cử thuộc về Tông Toà.

Canon 378

§1 To be a suitable candidate for the episcopate, a person must:1° be outstanding in strong faith, good morals, piety, zeal for souls, wisdom, prudence and human virtues, and possess those other gifts which equip him to fulfil the office in question;2° be held in good esteem;3° be at least 35 years old;4° be a priest ordained for at least five years;5° hold a doctorate or at least a licentiate in sacred Scripture, theology or canon law, from an institute of higher studies approved by the Apostolic See, or at least be well versed in these disciplines.
§2 The definitive judgement on the suitability of the person to be promoted rests with the Apostolic See.

Điều 379

Nếu không bị ngăn trở hợp lệ, người được tiến cử lên chức Giám Mục phải được tấn phong trong vòng ba tháng kể từ ngày nhận được văn thư của Tòa Thánh, và trước khi nhận giáo vụ.

Canon 379

Unless prevented by a lawful reason, one who is promoted to the episcopate must receive episcopal consecration within three months of receiving the apostolic letters, and in fact before he takes possession of his office.

Điều 380

Trước khi nhận giáo vụ theo giáo luật, người được tiến cử phải tuyên xưng đức tin và phải tuyên thệ trung thành với Tông Tòa theo công thức do Tông Tòa phê chuẩn.

Canon 380

Before taking canonical possession of his office, he who has been promoted is to make the profession of faith and take the oath of fidelity to the Apostolic See, in accordance with the formula approved by the same Apostolic See.

Điều 381

§1. Giám Mục giáo phận có mọi quyền thông thường, riêng biệt và trực tiếp trong giáo phận được ủy thác cho ngài, để thi hành nhiệm vụ mục vụ, ngoại trừ những trường hợp mà luật hoặc một sắc lệnh của Đức Giáo Hoàng dành riêng cho Quyền Bính Tối Cao hoặc cho một quyền bính nào khác trong Giáo Hội.
§2. Những vị đứng đầu các cộng đồng tín hữu khác được nói đến ở điều 368, được luật đồng hóa với các Giám Mục giáo phận, trừ khi đã rõ cách khác theo bản tính sự việc hoặc theo những quy định của luật.

Canon 381

§1 In the diocese entrusted to his care, the diocesan Bishop has all the ordinary, proper and immediate power required for the exercise of his pastoral office, except in those matters which the law or a decree of the Supreme Pontiff reserves to the supreme or to some other ecclesiastical authority.
§2 Those who are at the head of the other communities of the faithful mentioned in can. 368, are equivalent in law to the diocesan Bishop unless the contrary is clear from the nature of things or from a provision of the law.

Điều 382

§1. Giám Mục được tiến cử không được xen vào việc thi hành giáo vụ đã được trao phó trước khi nhận giáo phận theo giáo luật; tuy nhiên, ngài có thể thi hành các giáo vụ ngài đã giữ trong giáo phận đó trước khi được tiến cử, miễn là vẫn tôn trọng những quy định của điều 409
§2.
§2. Trừ khi bị ngăn trở hợp lệ, người được tiến cử lên chức Giám Mục giáo phận, nếu chưa được thụ phong Giám Mục, phải nhậm chức trong giáo phận theo giáo luật trong vòng bốn tháng, kể từ khi nhận được tông thư.
§3. Trong chính giáo phận mình, Giám Mục nhậm chức theo giáo luật kể từ lúc ngài đích thân hoặc nhờ đại diện trình tông thư cho ban tư vấn trước sự hiện diện của chưởng ấn tòa giám mục, và vị này lập biên bản về việc nhậm chức; hoặc trong những giáo phận mới được thiết lập, ngài nhậm chức kể từ lúc ngài thông báo tông thư đó cho hàng giáo sĩ và giáo dân hiện diện trong nhà thờ chính toà; linh mục cao niên nhất trong số các linh mục hiện diện phải lập biên bản về việc nhậm chức.
§4. Việc nhậm chức theo giáo luật được khuyến khích thực hiện trong một nghi thức phụng vụ tại nhà thờ chính toà, trước sự hiện diện của hàng giáo sĩ và giáo dân.

Canon 382

§1 A person who is promoted to the episcopate cannot become involved in the exercise of the office entrusted to him before he has taken canonical possession of the diocese. However, he is able to exercise offices which he already held in the same diocese at the time of his promotion, without prejudice to can. 409
§2.
§2 Unless he is lawfully impeded, one who is not already consecrated a Bishop and is now promoted to the office of diocesan Bishop, must take canonical possession of his diocese within four months of receiving the apostolic letters. If he is already consecrated, he must take possession within two months of receiving the apostolic letters.
§3 A Bishop takes canonical possession of his diocese when, personally or by proxy, he shows the apostolic letters to the college of consultors, in the presence of the chancellor of the curia, who makes a record of the fact. This must take place within the diocese. In dioceses which are newly established he takes possession when he communicates the same letters to the clergy and the people in the cathedral church, with the senior of the priests present making a record of the fact.
§4 It is strongly recommended that the taking of canonical possession be performed with a liturgical act in the cathedral church, in the presence of the clergy and the people.

Điều 383

§1. Trong khi thi hành nhiệm vụ chủ chăn, Giám Mục giáo phận phải tỏ ra ân cần đối với mọi Kitô hữu đã được trao phó cho ngài chăm sóc, bất kỳ tuổi tác, địa vị, hoặc quốc tịch của họ, dù họ là người cư ngụ trong địa hạt của ngài, hoặc là người ở đó tạm thời; ngài phải biểu lộ lòng nhiệt thành tông đồ với cả những người không thể được chăm sóc đầy đủ về phương diện mục vụ thông thường vì hoàn cảnh sinh sống của họ, cũng như những người không còn sống đạo.
§2. Nếu trong giáo phận có những tín hữu thuộc lễ điển khác, ngài phải đáp ứng những nhu cầu thiêng liêng của họ nhờ các tư tế hay các cha sở thuộc lễ điển đó, hoặc nhờ một vị Đại Diện Giám Mục.
§3. Đối những anh em không còn hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo, ngài phải cư xử với lòng nhân từ và bác ái bằng cách cổ vũ phong trào đại kết theo ý hướng của Giáo Hội.
§4. Ngài phải coi những người không được rửa tội như những người được Chúa trao phó cho mình, ngõ hầu đức ái của Chúa Kitô mà Giám Mục phải là chứng nhân trước mặt mọi người cũng được tỏ lộ cho họ.

Canon 383

§1 In exercising his pastoral office, the diocesan Bishop is to be solicitous for all Christ’s faithful entrusted to his care, whatever their age, condition or nationality, whether they live in the territory or are visiting there. He is to show an apostolic spirit also to those who, because of their condition of life, are not sufficiently able to benefit from ordinary pastoral care, and to those who have lapsed from religious practice.
§2 If he has faithful of a different rite in his diocese, he is to provide for their spiritual needs either by means of priests or parishes of the same rite, or by an episcopal Vicar.
§3 He is to act with humanity and charity to those who are not in full communion with the Catholic Church; he should also foster ecumenism as it is understood by the Church.
§4 He is to consider the non-baptised as commended to him in the Lord, so that the charity of Christ, of which the Bishop must be a witness to all, may shine also on them.

Điều 384

Giám Mục giáo phận phải quan tâm đặc biệt đến các linh mục mà ngài phải lắng nghe như những phụ tá và cố vấn của mình: ngài phải bênh vực các quyền lợi của họ và phải liệu sao để họ chu toàn đầy đủ những nghĩa vụ hợp với bậc mình và có những phương tiện và những định chế cần thiết để thăng tiến đời sống thiêng liêng và trí tuệ; cũng vậy, ngài phải liệu sao để họ được trợ cấp xứng đáng và có bảo hiểm xã hội chiếu theo quy tắc của luật.

Canon 384

He is to have a special concern for the priests, to whom he is to listen as his helpers and counsellors. He is to defend their rights and ensure that they fulfil the obligations proper to their state. He is to see that they have the means and the institutions needed for the development of their spiritual and intellectual life. He is to ensure that they are provided with adequate means of livelihood and social welfare, in accordance with the law. [See Explanatory Note of the Dicastery for Legislative Texts, 12.II.2004 and Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 18214/2024, 6.III.2024, which deal with the bishop’s canonical responsibility towards his clerics and his duty of vigilance over them]

Điều 385

Giám Mục giáo phận phải hết sức cổ vũ các ơn gọi cho các tác vụ khác nhau và cho đời thánh hiến, đặc biệt quan tâm đến các ơn gọi tư tế và thừa sai.

Canon 385

He must in a very special way foster vocations to the various ministries and to consecrated life, having a special care for priestly and missionary vocations.

Điều 386

§1. Giám Mục giáo phận buộc phải năng đích thân giảng dạy để trình bày và giải thích cho các tín hữu những chân lý đức tin họ phải tin và phải áp dụng vào cuộc sống; ngài cũng phải liệu sao để những quy định giáo luật về tác vụ Lời Chúa, nhất là những quy định về bài giảng lễ và về việc huấn giáo được tuân hành chu đáo, đến mức toàn bộ học thuyết Kitô giáo được truyền đạt cho tất cả mọi người.
§2. Ngài phải cương quyết bảo vệ tính toàn vẹn và duy nhất của đức tin bằng những phương thế thích hợp nhất, nhưng phải công nhận sự tự do chính đáng trong việc nghiên cứu chân lý cách sâu rộng hơn.

Canon 386

§1 The diocesan Bishop is bound to teach and illustrate to the faithful the truths of faith which are to be believed and applied to behaviour. He is himself to preach frequently. He is also to ensure that the provisions of the canons on the ministry of the word, especially on the homily and catechetical instruction, are faithfully observed, so that the whole of Christian teaching is transmitted to all.
§2 By whatever means seem most appropriate, he is firmly to defend the integrity and unity of the faith to be believed. However, he is to acknowledge a just freedom in the further investigation of truths.

Điều 387

Ý thức mình phải nêu gương thánh thiện trong đức ái, trong sự khiêm tốn và trong nếp sống giản dị, Giám Mục giáo phận phải hết sức cổ vũ sự thánh thiện của Kitô hữu, theo ơn gọi của mỗi người, và vì ngài là người phân phát chính các mầu nhiệm của Thiên Chúa, ngài phải phấn đấu để mọi Kitô hữu được ủy thác cho ngài săn sóc được tăng trưởng trong ân sủng nhờ việc cử hành các bí tích, và để họ nhận biết và sống mầu nhiệm Phục Sinh.

Canon 387

Mindful that he is bound to give an example of holiness, charity, humility and simplicity of life, the diocesan Bishop is to seek in every way to promote the holiness of Christ’s faithful according to the special vocation of each. Since he is the principal dispenser of the mysteries of God, he is to strive constantly that Christ’s faithful entrusted to his care may grow in grace through the celebration of the sacraments, and may know and live the paschal mystery.

Điều 388

§1. Sau khi nhậm chức trong giáo phận, Giám Mục giáo phận phải dâng lễ cầu cho đoàn dân đã được ủy thác cho ngài mỗi ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc khác trong miền của ngài.
§2. Giám Mục phải đích thân cử hành và dâng lễ cầu cho đoàn dân trong những ngày đã được nói đến ở
§1; nếu ngài bị ngăn trở chính đáng không dâng lễ được, thì ngài phải nhờ người khác dâng lễ trong những ngày đó, hoặc đích thân dâng lễ vào những ngày khác.
§3. Giám Mục nào, ngoài giáo phận riêng, còn kiêm nhiệm giáo phận khác, ngay cả với tước hiệu Giám Quản, thì chỉ buộc dâng một Thánh Lễ cho tất cả đoàn dân đã được ủy thác cho ngài.
§4. Giám Mục nào chu toàn nghĩa vụ được nói đến ở các §
§1-3, hể bỏ sót bao nhiêu lễ, thì phải dâng đủ bấy nhiêu lễ cầu cho đoàn dân sớm hết sức có thể.

Canon 388

§1 After he has taken possession of the diocese, the diocesan Bishop must apply the Mass for the people entrusted to him on each Sunday and on each holyday of obligation in his region.
§2 The Bishop must himself celebrate and apply the Mass for the people on the days mentioned in
§1; if, however, he is lawfully impeded from so doing, he is to have someone else do so on those days, or do so himself on other days.
§3 A Bishop who, in addition to his own, is given another diocese, even as administrator, satisfies the obligation by applying one Mass for all the people entrusted to him.
§4 A Bishop who has not satisfied the obligation mentioned in §
§1-3, is to apply as soon as possible as many Masses for the people as he has omitted.

Điều 389

Giám Mục phải thường xuyên chủ sự Thánh Lễ tại nhà thờ chính tòa của mình hoặc tại một nhà thờ khác thuộc giáo phận ngài, nhất là trong những lễ buộc và những lễ trọng khác.

Canon 389

He is frequently to preside at the Eucharistic celebration in the cathedral church or in some other church of his diocese, especially on holydays of obligation and on other solemnities.

Điều 390

Giám Mục giáo phận có thể cử hành nghi lễ đại triều trong toàn giáo phận của ngài, nhưng ngoài giáo phận riêng thì không được, nếu không có sự đồng ý minh nhiên hoặc ít là được suy đoán cách hợp lý của Đấng Bản Quyền địa phương.

Canon 390

The diocesan Bishop may use pontificalia throughout his diocese. He may not do so outside his diocese without the consent of the local Ordinary, either expressly given or at least reasonably presumed.

Điều 391

§1. Giám Mục giáo phận lãnh đạo Giáo Hội địa phương đã được ủy thác cho mình với quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp chiếu theo quy tắc của luật.
§2. Giám Mục đích thân thi hành quyền lập pháp, ngài đích thân hoặc nhờ các Tổng Đại Diện hay các Đại Diện Giám Mục thi hành quyền hành pháp, chiếu theo quy tắc của luật; ngài đích thân hoặc nhờ vị Đại Diện tư pháp và các thẩm phán thi hành quyền tư pháp, chiếu theo quy tắc của luật.

Canon 391

§1 The diocesan Bishop governs the particular Church entrusted to him with legislative, executive and judicial power, in accordance with the law.
§2 The Bishop exercises legislative power himself. He exercises executive power either personally or through Vicars general or episcopal Vicars, in accordance with the law. He exercises judicial power either personally or through a judicial Vicar and judges, in accordance with the law.

Điều 392

§1. Vì phải bảo vệ sự hiệp nhất của Giáo Hội phổ quát, Giám Mục buộc phải cổ vũ kỷ luật chung của toàn thể Giáo Hội, và vì thế, ngài phải thúc bách việc tuân giữ tất cả mọi luật của Giáo Hội.
§2. Ngài phải liệu sao để cho kỷ luật của Giáo Hội không bị lạm dụng, nhất là trong những điều liên quan đến tác vụ Lời Chúa, đến việc cử hành các bí tích và các á bí tích, đến việc tôn thờ Thiên Chúa và việc tôn kính các thánh, cũng như đến việc quản trị tài sản.

Canon 392

§1 Since the Bishop must defend the unity of the universal Church, he is bound to foster the discipline which is common to the whole Church, and so press for the observance of all ecclesiastical laws.
§2 He is to ensure that abuses do not creep into ecclesiastical discipline, especially concerning the ministry of the word, the celebration of the sacraments and sacramentals, the worship of God and the cult of the saints, and the administration of goods.

Điều 393

Giám Mục giáo phận đại diện cho giáo phận trong mọi công việc pháp lý của giáo phận.

Canon 393

In all juridical transactions of the diocese, the diocesan Bishop acts in the person of the diocese.

Điều 394

§1. Giám Mục phải cổ vũ những hình thức khác nhau của việc tông đồ trong giáo phận, và phải liệu sao cho mọi hoạt động tông đồ trong toàn giáo phận hoặc trong những địa hạt riêng của giáo phận được phối trí với nhau dưới sự điều khiển của ngài, tuy vẫn tôn trọng tính cách riêng của mọi hoạt động.
§2. Ngài phải nhắc nhở cho tín hữu biết họ có bổn phận làm việc tông đồ, tùy theo hoàn cảnh và khả năng của mỗi người, và phải khuyến khích họ tham gia và giúp đỡ những hoạt động tông đồ khác nhau, tùy theo nhu cầu của mỗi thời và mỗi nơi.

Canon 394

§1 The Bishop is to foster various forms of the apostolate in his diocese and is to ensure that throughout the entire diocese, or in its particular districts, all works of the apostolate are coordinated under his direction, with due regard for the character of each apostolate.
§2 He is to insist on the faithful’s obligation to exercise the apostolate according to the condition and talents of each. He is to urge them to take part in or assist various works of the apostolate, according to the needs of place and time.

Điều 395

§1. Giám Mục giáo phận buộc phải giữ luật đích thân cư trú trong giáo phận mình, dù ngài đã có Giám Mục phó hay Giám Mục phụ tá.
§2. Trừ khi đi viếng ad limina, đi dự các Công Đồng, Thượng Hội đồng Giám Mục, hay khi phải vắng mặt vì một giáo vụ được ủy nhiệm cách hợp pháp, Giám Mục giáo phận có thể vắng mặt khỏi giáo phận vì lý do chính đáng, nhưng không quá một tháng, hoặc liên tục hoặc cách quãng, miễn là phải liệu sao để sự vắng mặt của mình không gây thiệt hại nào cho giáo phận.
§3. Giám Mục giáo phận không được vắng mặt khỏi giáo phận trong ngày lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh và lễ Phục Sinh, lễ Hiện Xuống và lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô, trừ khi có một lý do nghiêm trọng và khẩn cấp.
§4. Nếu Giám Mục vắng mặt khỏi giáo phận cách bất hợp pháp quá sáu tháng, vị Trưởng Giáo tỉnh phải thông báo cho Tông Tòa biết sự vắng mặt này; nếu vị Trưởng Giáo tỉnh vắng mặt bất hợp pháp, thì Giám Mục cao niên nhất trong giáo tỉnh phải báo cáo.

Canon 395

§1 The diocesan Bishop is bound by the law of personal residence in his diocese, even if he has a coadjutor or auxiliary Bishop.
§2 Apart from the visit ‘ad limina’, attendance at councils or at the synod of Bishops or at the Episcopal Conference, at which he must be present, or by reason of another office lawfully entrusted to him, he may be absent from the diocese, for a just reason, for not longer than one month, continuously or otherwise, provided he ensures that the diocese is not harmed by this absence. [On the inclusion of holidays, etc., in the period of one month specified in the canon, see the Explanatory Note of the Dicastery for Legislative Texts, 12.IX.1996]
§3 He is not to be absent from his diocese on Christmas Day, during Holy Week, or on Easter Sunday, Pentecost and Corpus Christi, except for a grave and urgent reason.
§4 If the Bishop is unlawfully absent from the diocese for more than six months, the Metropolitan is to notify the Holy See. If it is the Metropolitan who is absent, the senior suffragan is to do the same.

Điều 396

§1. Hằng năm, Giám Mục buộc phải đi kinh lý toàn giáo phận hoặc một phần giáo phận, sao cho ít nhất trong vòng năm năm có thể kinh lý toàn giáo phận, hoặc đích thân, hoặc nếu ngài bị ngăn trở chính đáng thì ngài nhờ Giám Mục phó hay Giám Mục phụ tá, Tổng Đại Diện hay Đại Diện Giám Mục, hay một linh mục khác.
§2. Giám Mục có quyền tùy ý chọn một số giáo sĩ để tháp tùng và giúp đỡ ngài trong cuộc kinh lý, mọi đặc ân và mọi tục lệ trái ngược đều bị bãi bỏ.

Canon 396

§1 The Bishop is bound to visit his diocese in whole or in part each year, so that at least every five years he will have visited the whole diocese, either personally or, if he is lawfully impeded, through the coadjutor or auxiliary Bishop, the Vicar general, an episcopal Vicar or some other priest.
§2 The Bishop has a right to select any clerics he wishes as his companions and helpers in a visitation, any contrary privilege or custom being reprobated.

Điều 397

§1. Các nhân sự, các cơ sở Công Giáo, các sự vật và các nơi thánh nằm trong giáo phận phải thuộc quyền kinh lý thông thường của Giám Mục.
§2. Giám Mục chỉ có thể kinh lý các thành viên của các hội dòng thuộc luật giáo hoàng và các nhà của họ trong những trường hợp được luật dự trù cách minh nhiên.

Canon 397

§1 Persons, Catholic institutes, pious objects and places within the boundaries of the diocese, are subject to ordinary episcopal visitation.
§2 The Bishop may visit the members of religious institutes of pontifical right and their houses only in the cases stated in the law.

Điều 398

Giám Mục phải gắng chu toàn việc kinh lý mục vụ cách chu đáo; ngài phải lưu tâm đừng trở nên gánh nặng cho ai vì những chi phí dư thừa.

Canon 398

The Bishop is to endeavour to make his pastoral visitation with due diligence. He is to ensure that he is not a burden to anyone on the ground of undue expense.

Điều 399

§1. Cứ năm năm một lần, Giám Mục giáo phận phải đệ nạp lên Đức Giáo Hoàng bản phúc trình về tình trạng của giáo phận đã được ủy thác cho ngài, theo biểu mẫu và vào thời điểm do Tông Tòa ấn định.
§2. Nếu toàn bộ hoặc một phần của năm được ấn định để đệ nạp bản phúc trình trùng hợp với hai năm đầu kể từ khi khởi sự sự nhận lãnh đạo giáo phận, thì lần đó Giám Mục không phải soạn thảo và cũng không phải gửi bản phúc trình.

Canon 399

§1 Every five years the diocesan Bishop is bound to submit to the Supreme Pontiff a report on the state of the diocese entrusted to him, in the form and at the time determined by the Apostolic See.
§2 If the year assigned for submitting this report coincides in whole or in part with the first two years of his governance of the diocese, for that occasion the Bishop need not draw up and submit the report. [See Praedicate Evangelium, 19.III.2022, arts. 38-42, on visits ad limina] [See also the Final Document of the XVI Ordinary General Assembly of the Synod of Bishops, 24.XI.2024, nos. 101, 125c), and 135, and the Accompanying Note by Pope Francis]

Điều 400

§1. Vào đúng năm đệ nạp bản phúc trình lên Đức Giáo Hoàng, nếu Tông Tòa không ấn định cách khác, Giám Mục giáo phận phải về Rôma để viếng mộ các thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô và phải yến kiến Đức Giáo Hoàng Rôma.
§2. Giám Mục phải tự mình chu toàn nghĩa vụ nói trên, trừ khi bị ngăn trở chính đáng; trong trường hợp này, ngài phải nhờ Giám Mục phó, nếu có, hoặc Giám Mục phụ tá, hay một tư tế có khả năng xứng hợp thuộc linh mục đoàn hiện đang cư ngụ trong giáo phận của ngài để thay ngài chu toàn nghĩa vụ đó.
§3. Vị Đại Diện tông tòa có thể nhờ một người đại diện để thay ngài chu toàn nghĩa vụ đó, ngay cả khi họ đang ở Rôma; vị Phủ Doãn tông tòa không có nghĩa vụ này.

Canon 400

§1 Unless the Apostolic See has decided otherwise, in the year in which he is bound to submit the report to the Supreme Pontiff, the diocesan Bishop is to go to Rome to venerate the tombs of the Blessed Apostles Peter and Paul, and to present himself to the Roman Pontiff.
§2 The Bishop is to satisfy this obligation personally, unless he is lawfully impeded; in which case he is to satisfy the obligation through the coadjutor, if he has one, or the auxiliary, or a suitable priest of his presbyterium who resides in his diocese.
§3 A Vicar apostolic can satisfy this obligation through a proxy, even through one residing in Rome. A Prefect apostolic is not bound by this obligation.

Điều 401

§1. Giám Mục giáo phận đã trọn bảy mươi lăm tuổi được yêu cầu đệ đơn từ nhiệm lên Đức Giáo Hoàng, và Đức Giáo Hoàng sẽ định liệu sau khi cân nhắc tất cả mọi hoàn cảnh.
§2. Giám Mục giáo phận được khẩn khoản yêu cầu đệ đơn từ nhiệm vì lý do sức khoẻ hay vì bất cứ lý do nghiêm trọng nào khác khiến ngài không đủ khả năng chu toàn giáo vụ của mình.

Canon 401

§1 A diocesan Bishop who has completed his seventy-fifth year of age is requested to offer his resignation from office to the Supreme Pontiff, who, taking all the circumstances into account, will make provision accordingly.
§2 A diocesan Bishop who, because of illness or some other grave reason, has become unsuited for the fulfilment of his office, is earnestly requested to offer his resignation from office. [See m.p. Learn to take your leave, 12.II.2018: Art. 1. Upon reaching 75 years of age, diocesan and eparchial Bishops, and those deemed equivalent to them according to canons 381
§2 CIC and 313 CCEO, as well as Coadjutor and Auxiliary Bishops or holders of special pastoral responsibilities, are invited to present to the Supreme Pontiff their resignation from pastoral office. Art. 2. Upon reaching 75 years of age, non-Cardinal Dicastery Heads of the Roman Curia, Superior Prelates of the Roman Curia and Bishops holding other offices of the Holy See, do not ipso facto cede their office, but must present their resignation to the Supreme Pontiff. Art. 3. Likewise, Pontifical Representatives do not ipso facto cede their office upon reaching seventy-five years of age, but in this circumstance must present their resignation to the Supreme Pontiff. Art. 4. To be effective, resignation pursuant to articles 1-3 must be accepted by the Supreme Pontiff, who will decide by evaluating the concrete circumstances. Art. 5. Once the resignation is presented, the office relative to articles 1-3 will be extended until acceptance of the resignation is communicated to the interested party, for a fixed or unspecified time, contrary to the general terms established by canons 189
§3 CIC and 970
§1 CCEO.]

Điều 402

§1. Một khi đơn từ nhiệm đã được chấp thuận, Giám Mục sẽ giữ tước hiệu nguyên Giám Mục của giáo phận mình, và nếu muốn, ngài vẫn có thể cư trú ngay trong giáo phận đó, trừ khi Tông Tòa đã dự liệu cách khác trong một số trường hợp vì hoàn cảnh đặc biệt.
§2. Hội Đồng Giám Mục phải liệu sao để Giám Mục đã từ nhiệm được trợ cấp cách phù hợp và xứng đáng, tuy nhiên, nghĩa vụ này trước hết thuộc về giáo phận mà ngài đã phục vụ.

Canon 402

§1 A Bishop whose resignation from office has been accepted, acquires the title ‘emeritus’ of his diocese. If he so wishes, he may have a residence in the diocese unless, because of special circumstances in certain cases, the Apostolic See provides otherwise. [See Authentic Interpretation of canon 402
§1, 10.X.1991, allowing emeritus bishops to be elected as members]
§2 The Episcopal Conference must ensure that suitable and worthy provision is made for the upkeep of a Bishop who has resigned, bearing in mind the primary obligation which falls on the diocese which he served.

Điều 403

§1. Khi nhu cầu mục vụ của giáo phận đòi hỏi, phải đặt một hay nhiều Giám Mục phụ tá theo sự yêu cầu của Giám Mục giáo phận; Giám Mục phụ tá không có quyền kế vị.
§2. Trong những hoàn cảnh nghiêm trọng hơn, ngay cả khi có tính cách cá nhân, có thể ban cho Giám Mục giáo phận một Giám Mục phụ tá với những năng quyền đặc biệt.
§3 Nếu xét thấy thuận lợi, Tòa Thánh có thể chiếu theo chức vụ đặt một Giám Mục phó với những năng quyền đặc biệt; Giám Mục phó có quyền lế vị.

Canon 403

§1 When the pastoral needs of the diocese require it, one or more auxiliary Bishops are to be appointed at the request of the diocesan Bishop. An auxiliary Bishop does not have the right of succession.
§2 In more serious circumstances, even of a personal nature, the diocesan Bishop may be given an auxiliary Bishop with special faculties.
§3 If the Holy See considers it more opportune, it can ex officio appoint a coadjutor Bishop, who also has special faculties. A coadjutor Bishop has the right of succession.

Điều 404

§1. Giám Mục phó nhậm chức khi ngài đích thân hoặc nhờ một người đại diện trình tông thư bổ nhiệm cho Giám Mục giáo phận và ban tư vấn, trước sự hiện diện của chưởng ấn tòa giám mục, và vị này lập biên bản về việc nhậm chức.
§2. Giám Mục phụ tá nhậm chức khi ngài trình tông thư bổ nhiệm cho Giám Mục giáo phận, trước sự hiện diện của vị chưởng ấn tòa giám mục, và vị này lập biên bản về việc nhậm chức.
§3. Trong trường hợp Giám Mục giáo phận bị ngăn trở hoàn toàn, Giám Mục phó cũng như Giám Mục phụ tá chỉ cần trình tông thư bổ nhiệm cho ban tư vấn, trước sự hiện diện của vị chưởng ấn tòa giám mục.

Canon 404

§1 The coadjutor Bishop takes possession of his office when, either personally or by proxy, he shows the apostolic letters of appointment to the diocesan Bishop and the college of consultors, in the presence of the chancellor of the curia, who makes a record of the fact.
§2 An auxiliary Bishop takes possession of his office when he shows his apostolic letters of appointment to the diocesan Bishop, in the presence of the chancellor of the curia, who makes a record of the fact.
§3 If the diocesan Bishop is wholly impeded, it is sufficient that either the coadjutor Bishop or the auxiliary Bishop show their apostolic letters of appointment to the college of consultors, in the presence of the chancellor of the curia.

Điều 405

§1. Giám Mục phó cũng như Giám Mục phụ tá có những bổn phận và quyền lợi được ấn định trong các điều khoản sau đây và được xác định trong văn thư bổ nhiệm.
§2. Giám Mục phó và Giám Mục phụ tá được nói đến ở điều 403
§2, giúp đỡ Giám Mục giáo phận lãnh đạo toàn giáo phận và thay thế ngài khi ngài vắng mặt hoặc bị ngăn trở.

Canon 405

§1 The coadjutor Bishop and the auxiliary Bishop have the obligations and the rights which are determined by the provisions of the following canons and defined in their letters of appointment.
§2 The coadjutor Bishop, or the auxiliary Bishop mentioned in can. 403
§2, assists the diocesan Bishop in the entire governance of the diocese, and takes his place when he is absent or impeded.

Điều 406

§1. Giám Mục phó cũng như Giám Mục phụ tá, được nói đến ở điều 403
§2, phải được Giám Mục giáo phận đặt làm Tổng Đại Diện; hơn nữa, Giám Mục giáo phận phải ưu tiên ủy thác cho vị Tổng Đại Diện hơn những người khác các công việc mà luật đòi hỏi phải có sự ủy nhiệm đặc biệt.
§2. Nếu tông thư không dự liệu cách khác, miễn là vẫn tôn trọng những quy định của
§1, Giám Mục giáo phận phải đặt vị phụ tá hoặc các phụ tá của ngài làm Tổng Đại Diện hoặc ít là Đại Diện Giám Mục, và các vị này chỉ lệ thuộc quyền ngài, hoặc quyền Giám Mục phó, hoặc quyền Giám Mục phụ tá được nói đến ở điều 403
§2.

Canon 406

§1 The coadjutor Bishop, and likewise the auxiliary Bishop mentioned in can. 403
§2, is to be appointed a Vicar general by the diocesan Bishop. The diocesan Bishop is to entrust to him, in preference to others, those things which by law require a special mandate.
§2 Unless the apostolic letters provide otherwise, and without prejudice to the provision of
§1, the diocesan Bishop is to appoint his auxiliary or auxiliaries as Vicar general or at least episcopal Vicar, in dependence solely on his authority, or on that of the coadjutor Bishop or of the auxiliary Bishop mentioned in can. 403
§2. [No. 71 c) of the Directory Apostolorum Successores, 22.II.2004, clarifies that the diocesan Bishop should not entrust the auxiliary Bishop with the care of a parish or with tasks of a purely marginal or occasional nature]

Điều 407

§1. Nhằm cổ vũ lợi ích hiện tại và tương lai của giáo phận một cách tối đa, Giám Mục giáo phận, Giám Mục phó và Giám Mục phụ tá được nói đến ở điều 403
§2, phải hội ý với nhau trong những vấn đề quan trọng hơn.
§2. Khi phải giải quyết những vấn đề quan trọng hơn, nhất là những vấn đề có tính mục vụ, Giám Mục giáo phận phải ưu tiên hội ý với các Giám Mục phụ tá trước những người khác.
§3. Vì được mời gọi chia sẽ trách nhiệm với Giám Mục giáo phận, nên Giám Mục phó và Giám Mục phụ tá phải thi hành nhiệm vụ của mình thế nào để có sự hiệp nhất với ngài trong tinh thần cũng như trong hành động.

Canon 407

§1 For the greatest present and future good of the diocese, the diocesan Bishop, the coadjutor and the auxiliary Bishop mentioned in can. 403
§2, are to consult with each other on matters of greater importance.
§2 In assessing matters of greater importance, particularly those of a pastoral nature, the diocesan Bishop is to consult the auxiliary Bishop before all others.
§3 The coadjutor Bishop and the auxiliary Bishop, since they are called to share in the cares of the diocesan Bishop, should so exercise their office that they act and think in accord with him.

Điều 408

§1. Mỗi khi được Giám Mục giáo phận yêu cầu và nếu không bị ngăn trở chính đáng, Giám Mục phó và Giám Mục phụ tá buộc phải cử hành các nghi lễ đại triều và các nghi lễ khác thuộc bổn phận của Giám Mục giáo phận.
§2. Giám Mục giáo phận không được thường xuyên ủy thác cho người khác những quyền lợi và những nhiệm vụ thuộc về Giám Mục mà Giám Mục phó hoặc Giám Mục phụ tá có thể thi hành.

Canon 408

§1 As often as they are requested to do so by the diocesan Bishop, a coadjutor Bishop and an auxiliary Bishop who are not lawfully impeded, are obliged to perform those pontifical and other functions to which the diocesan Bishop is bound.
§2 Those episcopal rights and functions which the coadjutor can exercise are not habitually to be entrusted to another by the diocesan Bishop.

Điều 409

§1. Khi tòa giám mục khuyết vị, Giám Mục phó tức khắc trở thành Giám Mục của giáo phận vì đó mà ngài đã được đặt lên, miễn là ngài đã nhậm chức hợp lệ.
§2. Trong lúc tòa giám mục khuyết vị, nếu nhà chức trách có thẩm quyền không ấn định cách khác, thì Giám Mục phụ tá chỉ duy trì tất cả những quyền hành và những năng quyền mà ngài đã có như vị Tổng Đại Diện hoặc vị Đại Diện Giám Mục, lúc tòa chưa khuyết vị, cho tới khi tân Giám Mục nhậm chức; và nếu không được chỉ định làm Giám Quản giáo phận, Giám Mục phụ tá phải thi hành quyền mà luật đã ban cho ngài, dưới quyền Giám Quản giáo phận là người lãnh đạo giáo phận.

Canon 409

§1 When the episcopal see falls vacant, the coadjutor immediately becomes the Bishop of the diocese for which he was appointed, provided he has lawfully taken possession.
§2 Unless the competent authority has provided otherwise, when the episcopal see is vacant and until the new Bishop takes possession of the see, the auxiliary Bishop retains all and only those powers and faculties which he had as Vicar general or as episcopal Vicar when the see was occupied. If he is not appointed to the office of diocesan Administrator, he is to exercise this same power of his, conferred by the law, under the authority of the diocesan Administrator, who governs the diocese.

Điều 410

Giám Mục phó và Giám Mục phụ tá, cũng như Giám Mục giáo phận, buộc phải cư trú trong giáo phận, các ngài chỉ được rời giáo phận trong thời gian ngắn, trừ khi phải thi hành một nhiệm vụ ngoài giáo phận hoặc khi đi nghỉ, nhưng kỳ nghỉ không được quá một tháng.

Canon 410

The coadjutor Bishop and the auxiliary Bishop are bound, like the diocesan Bishop, to reside in the diocese. Other than for the fulfilment of some duty outside the diocese, or for holidays, which are not to be longer than one month, they may not be away from the diocese except for a brief period.

Điều 411

Những quy định của điều 401 và 402
§2 về sự từ nhiệm cũng được áp dụng cho Giám Mục phó và Giám Mục phụ tá.

Canon 411

The provisions of cann. 401 and 402
§2, concerning resignation from office, apply also to a coadjutor and an auxiliary Bishop. [NB see m.p. Learn to take your leave, 12.II.2018, art. 5 (cf. can. 401)]

×

Mục Lục Giáo Luật

Vericath App

Cài đặt Vericath

Truy cập nhanh chóng và trải nghiệm mượt mà hơn trên màn hình chính của bạn.

Home