Đề mục 4. Chứng Cớ (Điều 1526-1586)

Điều 1526

§1. Ai đã quả quyết thì có nghĩa vụ phải chứng minh.
§2. Không cần phải trưng dẫn chứng cớ:1° những điều do chính luật suy đoán;2° những sự kiện do một bên tranh tụng quả quyết và được bên kia thừa nhận, nhưng trừ khi luật hoặc thẩm phán đòi thêm chứng cớ.

Canon 1526

§1 The onus of proof rests upon the person who makes an allegation.
§2 The following matters do not require proof:1° matters which are presumed by the law itself;2° facts alleged by one of the litigants and admitted by the other, unless their proof is nevertheless required either by law or by the judge.

Điều 1527

§1. Có thể viện dẫn bất cứ loại chứng cớ nào, miễn là những chứng cớ này được xem là hữu ích để thẩm cứu vụ án và phải hợp pháp.
§2. Nếu một bên yêu cầu thừa nhận một chứng cớ đã bị thẩm phán loại bỏ, thì chính thẩm phán này phải giải quyết vấn đề hết sức nhanh chóng.

Canon 1527

§1 Any type of proof which seems useful for the investigation of the case and is lawful, may be admitted.
§2 If a party submits that proof, which has been rejected by the judge, should be admitted, the judge is to determine the matter with maximum expedition.

Điều 1528

Nếu một bên hay một nhân chứng từ chối trình diện để trả lời trước thẩm phán, thì được phép hỏi cung họ kể cả việc nhờ một giáo dân do thẩm phán chỉ định hoặc yêu cầu họ khai trước mặt một công chứng viên dân sự hay bằng bất cứ cách thức hợp thức nào khác.

Canon 1528

If a party or a witness refuses to testify before the judge, that person may lawfully be heard by another, even a lay person, appointed by the judge, or asked to make a declaration either before a public notary or in any other lawful manner.

Điều 1529

Thẩm phán không được tiến hành việc thu thập chứng cớ trước khi có đối tụng, trừ khi có một lý do nghiêm trọng.

Canon 1529

Unless there is a grave reason, the judge is not to proceed to collect the proofs before the joinder of the issue.

Điều 1530

Thẩm phán luôn luôn có thể thẩm vấn các bên để phát hiện rõ sự thật, hơn nữa, thẩm phán phải làm việc đó khi một bên yêu cầu hay để chứng minh một sự kiện mà công ích đòi phải được đặt ra ngoài mọi sự hồ nghi.

Canon 1530

The judge may always question the parties the more closely to elicit the truth. He must do so if requested by one of the parties, or in order to prove a fact which the public interest requires to be placed beyond doubt.

Điều 1531

§1. Đương sự nào được thẩm vấn cách hợp pháp buộc phải trả lời và phải nói hết sự thật.
§2. Nếu đương sự từ chối trả lời, thẩm phán thẩm định xem điều gì có thể được rút ra từ đó để chứng minh các sự kiện.

Canon 1531

§1 A party who is lawfully questioned is obliged to respond and to tell the whole truth.
§2 If a party has refused to reply, it is for the judge to evaluate what, as far as the proof of the facts is concerned, can be deduced therefrom.

Điều 1532

Trong những trường hợp liên quan đến công ích, thẩm phán yêu cầu các bên phải thề là họ sẽ nói sự thật, hoặc ít nhất họ phải thề là họ đã nói sự thật, trừ khi có một lý do nghiêm trọng khuyên làm cách khác; trong những trường hợp khác, thẩm phán có thể làm điều đó tùy sự khôn ngoan của mình.

Canon 1532

Unless a grave reason suggests otherwise, in cases in which the public good is at stake the judge is to administer to the parties an oath that they will tell the truth, or at least that what they have said is the truth. In other cases, it is left to the prudent discretion of the judge to determine whether an oath is to be administered.

Điều 1533

Các bên, công tố viên và bảo hệ viên có thể đệ trình cho thẩm phán những câu hỏi mà dựa theo đó một bên sẽ bị thẩm vấn.

Canon 1533

The parties, the promotor of justice and the defender of the bond may submit to the judge propositions upon which a party is to be questioned.

Điều 1534

Các quy tắc được ấn định ở các điều 1548
§2, 10, 1552 và 1558-1565 về các nhân chứng, cũng được áp dụng thích hợp trong việc thẩm vấn các bên.

Canon 1534

The provisions of cann. 1548
§2, n. 1, 1552 and 1558-1565 concerning witnesses are to be observed, with the appropriate qualifications, in the questioning of the parties.

Điều 1535

Lời tự thú tư pháp là lời thú nhận rằng một sự kiện liên quan đến chính đối tượng của vụ án đi ngược lại quyền lợi riêng của mình, do một bên nói miệng hoặc viết trên giấy tờ, hoặc tự ý hoặc do thẩm phán hỏi cung, trước mặt thẩm phán có thẩm quyền.

Canon 1535

A judicial confession is an assertion of fact against oneself, concerning a matter relevant to the trial, which is made by a party before a judge who is legally competent; this is so whether the assertion is made in writing or orally, whether spontaneously or in response to the judge’s questioning.

Điều 1536

§1. Lời tự thú tư pháp của một đương sự, nếu thuộc một vấn đề riêng tư và không liên quan đến công ích, thì miễn chuẩn cho các đương sự khác khỏi phải trưng dẫn chứng cớ.
§2. Tuy nhiên, trong những vụ án liên quan đến công ích, lời tự thú tư pháp và những lời khai không có tính cách tự thú của các bên, có thể có giá trị chứng minh, thẩm phán phải thẩm định lời tự thú tư pháp và những lời khai đó trong tương quan với những yếu tố khác của vụ án; nhưng chúng không thể có giá trị chứng minh hoàn toàn nếu không được xác minh bằng những yếu tố vững chắc khác.

Canon 1536

§1 In a private matter and where the public good is not at stake, a judicial confession of one party relieves the other parties of the onus of proof.
§2 In cases which concern the public good, however, a judicial confession, and declarations by the parties which are not confessions, can have a probative value that is to be weighed by the judge in association with the other circumstances of the case, but the force of full proof cannot be attributed to them unless there are other elements which wholly corroborate them.

Điều 1537

Đối với lời tự thú ngoài tư pháp được trưng dẫn trong một vụ kiện, thẩm phán phải thẩm định xem lời tự thú đó có giá trị đến mức nào, sau khi đã cân nhắc tất cả mọi hoàn cảnh của vụ án.

Canon 1537

It is for the judge, having considered all the circumstances, to evaluate the weight to be given to an extra-judicial confession which is introduced into the trial.

Điều 1538

Một lời tự thú hay bất cứ lời khai nào khác của một đương sự sẽ không có giá trị, nếu xác nhận được rằng sự tự thú dựa trên sự lầm lẫn về sự kiện hoặc vì bạo lực hay vì một sự sợ hãi nghiêm trọng.

Canon 1538

A confession, or any other declaration of a party, is devoid of all force if clearly shown to be based on an error of fact or to have been extracted by force or grave fear.

Điều 1539

Việc chứng minh bằng tài liệu, công cũng như tư, được chấp nhận trong bất cứ vụ kiện nào.

Canon 1539

In every type of trial documentary proof is admitted, whether the documents be public or private.

Điều 1540

§1. Những tài liệu công của Giáo Hội là những tài liệu do một viên chức soạn thảo khi thi hành nhiệm vụ của mình trong Giáo Hội, trong khi vẫn tuân giữ những thể thức do luật quy định.
§2. Những tài liệu công dân sự là những tài liệu mà luật pháp địa phương công nhận như thế.
§3. Những tài liệu khác là những tài liệu tư.

Canon 1540

§1 Public ecclesiastical documents are those which an official person draws up in the exercise of his or her function in the Church and in which the formalities required by law have been observed.
§2 Public civil documents are those which are legally regarded as such in accordance with the laws of each place.
§3 All other documents are private.

Điều 1541

Trừ khi có những luận cứ trái ngược và hiển nhiên chứng minh cách khác, những tài liệu công chứng thực tất cả những điều được quả quyết trực tiếp và chính yếu trong đó.

Canon 1541

Unless it is otherwise established by contrary and clear arguments, public documents constitute acceptable evidence of those matters which are directly and principally affirmed in them.

Điều 1542

Một tài liệu tư, do một bên thừa nhận hay được thẩm phán chấp nhận, có hiệu lực chứng minh như lời tự thú ngoài tư pháp chống lại tác giả hay người ký tên và những người kế quyền của họ; đối với những đệ tam nhân, tài liệu nói trên chỉ có hiệu lực chứng minh như những lời khai không có tính cách tự thú của các bên, chiếu theo quy tắc của điều 1536
§2.

Canon 1542

A private document, whether acknowledged by a party or admitted by a judge, has the same probative force as an extra-judicial confession, against its author or the person who has signed it and against persons whose case rests on that of the author or signatory. Against others it has the same force as have declarations by the parties which are not confessions, in accordance with can. 1536
§2.

Điều 1543

Nếu chứng minh được rằng các tài liệu có những vết tẩy xóa, sửa chữa, thêm thắt hay hà tỳ nào khác, thẩm phán thẩm định xem tài liệu ấy có đáng tin không và đáng tin tới mức nào.

Canon 1543

If documents are shown to have been erased, amended, falsified or otherwise tampered with, it is for the judge to evaluate to what extent, if any, they are to be given credence.

Điều 1544

Những tài liệu không có hiệu lực chứng minh trong một vụ kiện, nếu đó không phải là những bản chính hoặc những bản sao đã được công chứng và nếu không được đệ nạp ở văn phòng tòa án, để thẩm phán và đối phương có thể nghiên cứu được.

Canon 1544

Documents do not have probative force at a trial unless they are submitted in original form or in authentic copy and are lodged in the office of the tribunal, so that they may be inspected by the judge and by the opposing party.

Điều 1545

Thẩm phán có quyền ra lệnh xuất trình trong vụ kiện một tài liệu chung cho cả hai bên.

Canon 1545

The judge can direct that a document common to each of the parties is to be submitted in the process.

Điều 1546

§1. Không ai bị bắt buộc phải xuất trình những tài liệu, dù là những tài liệu chung, khi việc trao đổi những tài liệu ấy có nguy cơ gây ra thiệt hại, chiếu theo quy tắc của điều 1548
§2, 20, hoặc có nguy cơ vi phạm việc giữ bí mật.
§2. Tuy nhiên, nếu có thể trích lục ít là một phần nào đó của tài liệu và trình bày dưới dạng bản sao mà không gây ra những bất tiện nêu trên, thì thẩm phán có thể ra lệnh xuất trình phần tài liệu ấy.

Canon 1546

§1 No one is obliged to exhibit documents, even if they are common, which cannot be communicated without danger of the harm mentioned in can. 1548
§2, n. 2, or without the danger of violating a secret which is to be observed.
§2 If, however, at least an extract from a document can be transcribed and submitted in copy without the disadvantages mentioned, the judge can direct that it be produced in that form.

Điều 1547

Bằng chứng qua các nhân chứng được chấp nhận trong bất cứ vụ án nào, dưới sự điều hành của thẩm phán.

Canon 1547

Proof by means of witnesses is admitted in all cases, under the direction of the judge.

Điều 1548

§1. Các nhân chứng phải nói sự thật khi họ được thẩm phán hỏi cách hợp pháp.
§2. Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1550
§2, 20, những người sau đây được miễn trả lời:1° các giáo sĩ trong những vấn đề để họ biết được do tác vụ thánh; các viên chức dân sự, các thầy thuốc, các nữ hộ sinh, các luật sư, các công chứng viên và tất cả những người buộc phải giữ bí mật nghề nghiệp, kể cả những người mang danh hiệu cố vấn, trong tất cả những vấn đề thuộc về bí mật này;2° những người sợ rằng việc làm chứng của họ sẽ làm cho chính bản thân họ, hoặc cho người phối ngẫu, hoặc cho những thân nhân thuộc họ máu hay họ kết bạn, bị mất thanh danh, bị đối xử tàn tệ, hay bị những hiểm họa khác.

Canon 1548

§1 Witnesses must tell the truth to a judge who lawfully questions them.
§2 Without prejudice to the provisions of can. 1550
§2, n. 2, the following are exempted from the obligation of replying to questions:1° clerics, in those matters revealed to them by reason of their sacred ministry; civil officials, doctors, midwives, advocates, notaries and others who are bound by the secret of their office, even on the ground of having offered advice, in respect of matters subject to this secret; [Vos estis lux mundi, 25.III.2023, art. 4
§1 states that to make a report pursuant to art. 3 of the same document shall not constitute a violation of confidentiality] [On the compatibility of the provisions of Vos estis lux mundi and the sacramental seal, see the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 16689/2019, 3.IX.2019]2° those who fear that, as a result of giving evidence, a loss of reputation, dangerous harassment or some other grave evil will arise for themselves, their spouses, or those related to them by consanguinity or affinity.

Điều 1549

Tất cả mọi người đều có thể làm chứng, nếu họ không bị luật minh nhiên loại bỏ hoàn toàn hay một phần.

Canon 1549

Everyone can be a witness, unless expressly excluded, whether wholly or in part, by the law.

Điều 1550

§1. Những người vị thành niên dưới mười bốn tuổi và những người suy nhược tâm thần không được nhận làm nhân chứng, nhưng họ có thể được hỏi ý kiến do sắc lệnh của thẩm phán tuyên bố rằng điều đó hữu ích.
§2. Những người sau đây được coi là không có khả năng làm chứng:1° các bên trong vụ án, hoặc những người đại diện cho các bên trước tòa, thẩm phán và những người trợ tá của thẩm phán, luật sư và những người khác đang hay đã giúp đỡ các bên trong cùng một vụ án;2° các tư tế trong tất cả những điều họ biết được do việc thú tội trong bí tích Sám Hối, ngay cả khi hối nhân yêu cầu tiết lộ những điều ấy; hơn nữa, những gì nghe được do bất cứ ai và bằng bất cứ cách nào nhân dịp thú tội, cũng không thể được chấp nhận, dù chỉ như là dấu hiệu của sự thật.

Canon 1550

§1 Minors under the age of fourteen years and those who are of feeble mind are not admitted to give evidence. They can, however, be heard if the judge declares by a decree that it would be appropriate to do so.
§2 The following are deemed incapable of being witnesses:1° the parties in the case or those who appear at the trial in the name of the parties; the judge and his assistant; the advocate and those others who in the same case assist or have assisted the parties;2° priests, in respect of everything which has become known to them in sacramental confession, even if the penitent has asked that these things be made known. Moreover, anything that may in any way have been heard by anyone on the occasion of confession, cannot be accepted even as an indication of the truth.

Điều 1551

Bên nào đã đưa một nhân chứng ra tòa, thì có thể khước từ việc thẩm vấn nhân chứng ấy; nhưng đối phương có thể yêu cầu cứ thẩm vấn nhân chứng ấy.

Canon 1551

A party who has introduced a witness may forego the examination of that witness, but the opposing party may ask that the witness nevertheless be examined.

Điều 1552

§1. Khi được yêu cầu lấy chứng cớ qua các nhân chứng, thì phải cho tòa án biết tên và nơi cư trú của họ.
§2. Trong thời hạn do thẩm phán ấn định, phải trình bày những điểm nào muốn yêu cầu để thẩm vấn những nhân chứng; bằng không, lời yêu cầu sẽ được xem như đã bị hủy bỏ.

Canon 1552

§1 When proof by means of witnesses is sought, the names and addresses of the witnesses are to be communicated to the tribunal.
§2 The propositions on which the interrogation of the witnesses is requested, are to be submitted within the time-limit determined by the judge; otherwise, the request is to be deemed abandoned.

Điều 1553

Thẩm phán phải hạn chế đừng để cho có quá nhiều nhân chứng.

Canon 1553

It is for the judge to curb an excessive number of witnesses.

Điều 1554

Trước khi thẩm vấn các nhân chứng, phải thông báo tên của họ cho các bên; nhưng nếu theo sự thẩm định khôn ngoan của mình, thẩm phán thấy điều đó không thể thực hiện được mà không gây khó khăn nghiêm trọng, thì ít nhất phải thông báo tên của các nhân chứng trước khi công bố các lời chứng.

Canon 1554

Before witnesses are examined, their names are to be communicated to the parties. If, in the prudent opinion of the judge, this cannot be done without great difficulty, it is to be done at least before the publication of the evidence.

Điều 1555

Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1550, một bên có thể yêu cầu loại bỏ một nhân chứng, nếu có một lý do chính đáng để loại bỏ, trước khi nhân chứng ấy cung khai.

Canon 1555

Without prejudice to the provisions of can. 1550, a party may request that a witness be excluded, provided a just reason for exclusion is established before the witness is examined.

Điều 1556

Việc triệu tập một nhân chứng phải được thực hiện do sắc lệnh của thẩm phán, sắc lệnh này được thông báo cho nhân chứng cách hợp pháp.

Canon 1556

The summons of a witness is effected by a decree of the judge lawfully notified to the witness.

Điều 1557

Một nhân chứng được triệu tập cách hợp pháp thì phải trình diện hoặc phải cho thẩm phán biết lý do vắng mặt của mình.

Canon 1557

A properly summoned witness is to appear, or to make known to the judge the reason for being absent.

Điều 1558

§1. Những nhân chứng phải được thẩm vấn tại chính trụ sở tòa án, trừ khi thẩm phán định cách khác.
§2. Các Hồng Y, các Thượng Phụ, các Giám Mục và những người được hưởng đặc ân tương tự theo luật quốc gia của họ, phải được thẩm vấn tại nơi do chính họ lựa chọn.
§3. Thẩm phán phải quyết định về nơi chốn để thẩm vấn những người không thể hay khó đến trụ sở tòa án vì xa xôi, vì bệnh tật hay vì một ngăn trở nào khác, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1418 và 1469
§2.

Canon 1558

§1 Witnesses are to be examined at the office of the tribunal unless the judge deems otherwise.
§2 Cardinals, Patriarchs, Bishops, and those who in their own civil law enjoy a similar favour, are to be heard at the place selected by themselves.
§3 Without prejudice to the provisions of can. 1418 and 1469
§2, the judge is to decide where witnesses are to be heard for whom, by reason of distance, illness or other impediment, it is impossible or difficult to come to the office of the tribunal.

Điều 1559

Các bên không được tham dự cuộc chấp cung các nhân chứng, trừ khi thẩm phán thẩm định là phải cho họ tham dự, cách riêng trong các vụ án việc liên quan đến tư ích. Tuy nhiên, những luật sư hay những người đại diện của họ có thể tham dự, trừ khi thẩm phán thẩm định phải tiến hành cách bí mật, vì những hoàn cảnh sự việc hay con người.

Canon 1559

The parties cannot be present at the examination of the witnesses unless, especially when there is question of a private interest, the judge has determined that they are to be admitted. Their advocates or procurators, however, may attend, unless by reason of the circumstances of matter and persons, the judge has determined that the proceedings are to be in secret.

Điều 1560

§1. Các nhân chứng phải được thẩm vấn riêng từng người một.
§2. Nếu các nhân chứng bất đồng ý kiến với nhau hay với một bên về vấn đề quan trọng, thẩm phán có thể cho những người ấy gặp nhau, tức là đối chất với nhau, nhưng phải làm hết sức để tránh những bất hòa và gương xấu.

Canon 1560

§1 The witnesses are to be examined individually and separately.
§2 If in a grave matter the witnesses disagree either among themselves or with one of the parties, the judge may arrange for those who differ to meet or to confront one another, but must, in so far as possible, eliminate discord and scandal.

Điều 1561

Việc chấp cung các nhân chứng được thực hiện do thẩm phán hay do người được thẩm phán ủy nhiệm hoặc do một dự thẩm, và phải có sự hiện diện của công chứng viên; vì thế, trừ khi luật địa phương ấn định cách khác, nếu các bên, hay công tố viên, hay bảo hệ viên, hay những luật sư hiện diện trong cuộc chấp cung có điều gì muốn hỏi nhân chứng thì không được hỏi thẳng nhân chứng, nhưng phải đưa câu hỏi cho thẩm phán hay cho người thay thế thẩm phán, để chính người này hỏi lại nhân chứng.

Canon 1561

The examination of a witness is conducted by the judge, or by his delegate or an auditor, who is to be attended by a notary. Accordingly, unless particular law provides otherwise, if the parties or the promotor of justice or the defender of the bond or the advocates who are present at the hearing have additional questions to put to the witness, they are to propose these not to the witness, but to the judge, or to the one who is taking the judge’s place, so that he or she may put them.

Điều 1562

§1. Thẩm phán phải nhắc nhở, cho nhân chứng biết nghĩa vụ quan trọng phải nói hết mọi sự thật và chỉ nói sự thật mà thôi.
§2. Thẩm phán phải buộc nhân chứng tuyên thệ chiếu theo điều 1532; nhưng nếu nhân chứng từ chối tuyên thệ, thì cũng phải nghe người ấy cung khai, mặc dầu họ không tuyên thệ.

Canon 1562

§1 The judge is to remind the witness of the grave obligation to tell the whole truth and nothing but the truth.
§2 The judge is to administer an oath to the witness in accordance with can. 1532. If, however, a witness refuses to take an oath, he or she is to be heard unsworn.

Điều 1563

Trước tiên, thẩm phán phải kiểm chứng lý lịch của nhân chứng, phải hỏi nhân chứng có liên hệ gì với các bên, và khi đặt ra cho nhân chứng những câu hỏi riêng biệt liên quan đến vụ án, thẩm phán cũng phải hỏi cho biết chính xác nơi chốn và thời gian mà nhân chứng biết được những điều họ quả quyết.

Canon 1563

The judge is first of all to establish the identity of the witness. The relationship which the witness has with the parties is to be probed, and when specific questions concerning the case are asked of the witness enquiry is to be made into the sources of his or her knowledge and the precise time the witness came to know the matters which are asserted.

Điều 1564

Các câu hỏi phải ngắn gọn, hợp với tầm hiểu biết của người được thẩm vấn, không bao hàm một lúc nhiều vấn đề, không quanh co, không xảo quyệt, không gợi ra câu trả lời, hoặc không có tính cách khiêu khích bất cứ ai và phải liên quan đến vụ án đang được xét xử.

Canon 1564

The questions are to be brief, and appropriate to the understanding of the person being examined. They are not to encompass a number of matters at the same time, nor be captious or deceptive. They are not to be leading questions, nor give any form of offence. They are to be relevant to the case in question.

Điều 1565

§1. Những câu hỏi không được thông báo trước cho các nhân chứng.
§2. Tuy nhiên, nếu các sự kiện phải được làm chứng đã được quên đi đến nỗi nếu không được gợi lại trước thì sẽ không được quả quyết chắc chắn được, thẩm phán có thể nói trước cho nhân chứng một vài điểm, nếu nghĩ rằng điều đó không có gì nguy hại.

Canon 1565

§1 The questions are not to be made known in advance to the witnesses.
§2 If, however, the matters about which evidence is to be given are so remote in memory that they cannot be affirmed with certainty unless they are recalled beforehand, the judge may, if he thinks this can safely be done, advise the witness in advance about certain aspects of the matter.

Điều 1566

Các nhân chứng phải cung khai bằng miệng và không được đọc điều đã viết sẵn, trừ khi phải nói đến những việc tính toán và sổ sách; trong trường hợp này, họ có thể tham khảo những điều ghi chú họ đã mang theo.

Canon 1566

The witnesses are to give evidence orally. They are not to read from a script, except where there is a question of calculations or accounts; in this case, they may consult notes which they have brought with them.

Điều 1567

§1. Câu trả lời phải được công chứng viên ghi ngay trên giấy tờ và phải ghi nguyên văn những lời nói của nhân chứng, ít nhất đối với những vấn đề trực tiếp liên quan đến đối tượng của vụ án.
§2. Có thể chấp nhận việc sử dụng máy ghi âm, miễm là sau đó các câu trả lời phải được ghi chép lại trên giấy tờ, và nếu có thể, phải được những người cung khai ký tên vào.

Canon 1567

§1 The replies are to be written down at once by the notary. The record must show the very words of the evidence given, at least in what concerns those things which bear directly on the matter of the trial.
§2 The use of a tape-recorder is allowed, provided the replies are subsequently committed to writing and, if possible, signed by the deponents.

Điều 1568

Công chứng viên phải ghi vào các án từ lời thề đã được đọc, được miễn chuẩn hay bị từ chối, sự hiện diện của các bên và của những đệ tam nhân, các câu hỏi được thêm vào chiếu theo chức vụ, và nói chung, tất cả những gì đáng ghi nhớ đã xảy ra trong cuộc thẩm vấn các nhân chứng.

Canon 1568

The notary is to mention in the acts whether the oath was taken or excused or refused; who were present, parties and others; the questions added ex officio; and in general, everything worthy of record which may have occurred while the witnesses were being examined.

Điều 1569

§1. Thẩm vấn xong, phải đọc cho nhân chứng nghe những lời khai của họ đã được công chứng viên ghi lại trên giấy tờ hay đã được thu qua máy ghi âm, và phải cho nhân chứng được quyền thêm, bỏ, sửa chữa, thay đổi các lời đã cung khai.
§2. Tiếp đến, nhân chứng, thẩm phán và công chứng viên phải ký vào án từ.

Canon 1569

§1 At the conclusion of the examination, the record of the evidence, either as written down by the notary or as played back from the tape-recording, must be communicated to the witness, who is to be given the opportunity of adding to, omitting from, correcting or varying it.
§2 Finally, the witness, the judge and the notary must sign the record.

Điều 1570

Trước khi công bố các án từ hay những lời chứng, các nhân chứng, mặc dầu đã được thẩm vấn rồi, vẫn có thể được mời ra để thẩm vấn lần nữa, do một bên yêu cầu hoặc chiếu theo chức vụ, nếu thẩm phán thấy điều đó là cần thiết hay hữu ích, miễn là không có nguy cơ thông đồng hay hối lộ nào.

Canon 1570

Before the acts or the testimony are published, witnesses, even though already examined, may be called for re-examination, either at the request of a party or ex officio. This may be done if the judge considers it either necessary or useful, provided there is no danger whatever of collusion or of inducement.

Điều 1571

Tùy theo sự ước tính hợp tình hợp lý của thẩm phán, phải bồi thường cho các nhân chứng những phí tổn phải chịu cũng như những lợi tức đã mất vì phải ra tòa làm chứng.

Canon 1571

Witnesses must be refunded both the expenses they incurred and the losses they sustained by reason of their giving evidence, in accordance with the equitable assessment of the judge.

Điều 1572

Trong việc thẩm định các lời chứng, sau khi đã đòi phải có những chứng thư nếu cần, thẩm phán phải cứu xét:1° tư cách và tiếng tăm của nhân chứng;2° nhân chứng có cung khai điều họ biết hay không, nhất là điều do mắt thấy tai nghe, hoặc là theo ý kiến riêng của họ, hoặc do dư luận, hoặc do người khác nói lại;3° nhân chứng có nhất quán, kiên trì và mạch lạc với mình hay không, hoặc là hay thay đổi, hoặc là không chắc chắn, hoặc là do dự;4° điều mà nhân chứng quả quyết có được những nhân chứng khác hoặc những yếu tố chứng minh khác xác nhận hay không.

Canon 1572

In weighing evidence the judge may, if it is necessary, seek testimonial letters, and is to take into account:1° the condition and uprightness of the witness2° whether the knowledge was acquired at first hand, particularly ifit was something seen or heard personally, or whether it was opinion, rumour or hearsay;3° whether the witness is constant and consistent, or varies, is uncertain or vacillating;4° whether there is corroboration of the testimony, and whether it is confirmed or not by other items of evidence.

Điều 1573

Lời khai của một nhân chứng duy nhất không thể đáng tin hoàn toàn, trừ khi người đó là một nhân chứng có tư cách chuyên môn và cung khai những việc mà họ đã thực hiện trong khi thi hành nhiệm vụ, hoặc trừ khi hoàn cảnh sự việc và con người khuyến cáo cách khác.

Canon 1573

The deposition of one witness cannot amount to full proof, unless the witness is a qualified one who gives evidence on matters carried out in an official capacity, or unless the circumstances of persons and things persuade otherwise.

Điều 1574

Phải nhờ đến các giám định viên, mỗi khi luật quy định hoặc mỗi khi thẩm phán cần đến việc nghiên cứu và ý kiến của họ dựa trên những quy luật kỹ thuật hay khoa học, để chứng minh một sự kiện hay để biết thực chất của một sự vật.

Canon 1574

The services of experts are to be used whenever, by a provision of the law or of the judge, their study and opinion, based upon their art or science, are required to establish some fact or to ascertain the true nature of some matter.

Điều 1575

Thẩm phán phải bổ nhiệm các giám định viên, sau khi đã nghe các bên hay do các bên đề nghị, hoặc nếu có dịp, phải thu nạp những bản phúc trình cho các giám định viên khác soạn thảo.

Canon 1575

It is for the judge, after hearing the opinions or suggestions of the parties, to appoint the experts or, if such is the case, to accept reports already made by other experts.

Điều 1576

Các giám định viên cũng bị loại trừ hoặc có thể bị khước từ vì cùng những lý do như các nhân chứng.

Canon 1576

Experts can be excluded or objected to for the same reasons as witnesses.

Điều 1577

§1. Sau khi đã lưu ý đến những luận cứ do các bên đối tụng trình bày, thẩm phán phải ra sắc lệnh ấn định từng điểm mà các giám định viên phải nghiên cứu.
§2. Phải trao cho giám định viên những án từ của vụ án cũng như những tài liệu và những chi tiết khác mà họ có thể cần đến để chu toàn nhiệm vụ cách đứng đắn và trung thực.
§3. Sau khi đã bàn hỏi với giám định viên, thẩm phán phải ấn định thời hạn để hoàn tất việc giám định và đệ nạp bản phúc trình.

Canon 1577

§1 The judge in his decree must define the specific terms of reference to be considered in the expert’s task, taking into account whatever may have been gathered from the litigants.
§2 The expert is to be given the acts of the case, and any documents and other material needed for the proper and faithful discharge of his or her duty.
§3 The judge, after discussion with the expert, is to determine a time for the completion of the examination and the submission of the report.

Điều 1578

§1. Mỗi giám định viên phải làm bản phúc trình riêng, trừ khi thẩm phán ra lệnh làm chung một bản, để từng người ký tên vào; trong trường hợp này, nếu có những ý kiến bất đồng, thì phải ghi chú cẩn thận.
§2. Nhưng giám định viên phải chỉ rõ là do những tài liệu nào hay do những cách thế thích hợp nào mà họ biết được lý lịch các nhân sự, các sự việc hay các nơi chốn; họ phải chỉ rõ là họ đã dùng đường lối nào và phương pháp nào để thi hành sứ mệnh đã được trao phó, và nhất là họ phải cho biết rõ là đã dựa trên những chứng cớ nào để kết luận.
§3. Giám định viên có thể được thẩm phán triệu tập để cung cấp thêm những lời giải thích mà về sau mới thấy là cần thiết.

Canon 1578

§1 Each expert is to complete a report distinct from that of the others, unless the judge orders that one report be drawn up and signed by all of them. In this case, differences of opinion, if there are such, are to be faithfully noted.
§2 Experts must clearly indicate the documents or other appropriate means by which they have verified the identity of persons, places or things. They are also to state the manner and method followed in fulfilling the task assigned to them, and the principal arguments upon which their conclusions are based.
§3 If necessary, the expert may be summoned by the judge to supply further explanations.

Điều 1579

§1. Thẩm phán phải cân nhắc cẩn thận không những các kết luận của các giám định viên, ngay khi chúng ăn khớp với nhau, mà cả các hoàn cảnh khác của vụ án nữa.
§2. Khi đưa ra những lý do quyết định của mình, thẩm phán phải trình bày những lý do đã đưa đến việc chấp nhận hay bác bỏ những kết luận của các giám định viên.

Canon 1579

§1 The judge is to weigh carefully not only the expert’s conclusions, even when they agree, but also all the other circumstances of the case.
§2 When he is giving the reasons for his decision, the judge must state on what grounds he accepts or rejects the conclusions of the experts.

Điều 1580

Phải hoàn trả cho các giám định viên những phí tổn và thù lao do thẩm phán ấn định cách hợp lý và công bình, miễn là vẫn giữ nguyên luật địa phương.

Canon 1580

Experts are to be paid their expenses and honorariums. These are to be determined by the judge in a proper and equitable manner, with due observance of particular law.

Điều 1581

§1. Các bên có thể chọn các giám định viên tư được thẩm phán chấp nhận.
§2. Nếu thẩm phán cho phép, các giám định viên tư này có thể tham khảo các án từ của vụ án, tùy theo mức độ cần thiết, và theo dõi diễn tiến của việc giám định, tuy nhiên, họ luôn luôn có thể nộp bản phúc trình riêng của họ.

Canon 1581

§1 Parties can designate their own experts, to be approved by the judge.
§2 If the judge admits them, these experts can inspect the acts of the case, in so far as required for the discharge of their duty, and can be present when the appointed experts fulfil their role. They can always submit their reports.

Điều 1582

Để thẩm vấn một vụ án, nếu thẩm phán nhận thấy cần phải đi đến một nơi hay cần phải xem xét một vật, thì phải quyết định điều đó bằng một sắc lệnh, trong đó phải vắn tắt kê khai những điều phải làm trong lúc đi đến hiện trường, sau khi đã bàn hỏi với các bên.

Canon 1582

If, in order to decide the case, the judge considers it opportune to visit some place, or inspect some thing, he is to set this out in a decree. After he has heard the parties, the decree is to give a brief description of what is to be made available for this access.

Điều 1583

Phải lập biên bản về việc kiểm định đã được thực hiện.

Canon 1583

After the inspection has been carried out, a document concerning it is to be drawn up.

Điều 1584

Sự suy đoán là sự phỏng định hữu lý về một việc không chắc chắn; sự suy đoán pháp định là sự suy đoán do chính luật ấn định; sự suy đoán nhân định là sự suy đoán do thẩm phán phỏng định.

Canon 1584

A presumption is a probable conjecture about something which is uncertain. Presumptions of law are those stated in the law; human presumptions are those made by a judge.

Điều 1585

Người nào có sự suy đoán pháp định thuận lợi cho mình thì người ấy khỏi phải viện dẫn chứng cớ, nghĩa vụ viện dẫn chứng cớ này thuộc về đối phương.

Canon 1585

A person with a presumption of law in his or her favour is freed from the onus of proof, which then falls on the other party.

Điều 1586

Thẩm phán không được phỏng định những sự suy đoán mà luật pháp không ấn định, nếu không căn cứ vào một sự kiện chắc chắn và nhất định có liên hệ trực tiếp đến điều đang tranh chấp.

Canon 1586

The judge is not to make presumptions which are not stated in the law, other than on the basis of a certain and determinate fact directly connected to the matter in dispute.

×

Mục Lục Giáo Luật

Vericath App

Cài đặt Vericath

Truy cập nhanh chóng và trải nghiệm mượt mà hơn trên màn hình chính của bạn.

Home