Chương 3. Các Nhân Chứng Và Việc Làm Chứng (Điều 1547-1573)

Điều 1547

Bằng chứng qua các nhân chứng được chấp nhận trong bất cứ vụ án nào, dưới sự điều hành của thẩm phán.

Canon 1547

Proof by means of witnesses is admitted in all cases, under the direction of the judge.

Điều 1548

§1. Các nhân chứng phải nói sự thật khi họ được thẩm phán hỏi cách hợp pháp.
§2. Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1550
§2, 20, những người sau đây được miễn trả lời:1° các giáo sĩ trong những vấn đề để họ biết được do tác vụ thánh; các viên chức dân sự, các thầy thuốc, các nữ hộ sinh, các luật sư, các công chứng viên và tất cả những người buộc phải giữ bí mật nghề nghiệp, kể cả những người mang danh hiệu cố vấn, trong tất cả những vấn đề thuộc về bí mật này;2° những người sợ rằng việc làm chứng của họ sẽ làm cho chính bản thân họ, hoặc cho người phối ngẫu, hoặc cho những thân nhân thuộc họ máu hay họ kết bạn, bị mất thanh danh, bị đối xử tàn tệ, hay bị những hiểm họa khác.

Canon 1548

§1 Witnesses must tell the truth to a judge who lawfully questions them.
§2 Without prejudice to the provisions of can. 1550
§2, n. 2, the following are exempted from the obligation of replying to questions:1° clerics, in those matters revealed to them by reason of their sacred ministry; civil officials, doctors, midwives, advocates, notaries and others who are bound by the secret of their office, even on the ground of having offered advice, in respect of matters subject to this secret; [Vos estis lux mundi, 25.III.2023, art. 4
§1 states that to make a report pursuant to art. 3 of the same document shall not constitute a violation of confidentiality] [On the compatibility of the provisions of Vos estis lux mundi and the sacramental seal, see the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 16689/2019, 3.IX.2019]2° those who fear that, as a result of giving evidence, a loss of reputation, dangerous harassment or some other grave evil will arise for themselves, their spouses, or those related to them by consanguinity or affinity.

Điều 1549

Tất cả mọi người đều có thể làm chứng, nếu họ không bị luật minh nhiên loại bỏ hoàn toàn hay một phần.

Canon 1549

Everyone can be a witness, unless expressly excluded, whether wholly or in part, by the law.

Điều 1550

§1. Những người vị thành niên dưới mười bốn tuổi và những người suy nhược tâm thần không được nhận làm nhân chứng, nhưng họ có thể được hỏi ý kiến do sắc lệnh của thẩm phán tuyên bố rằng điều đó hữu ích.
§2. Những người sau đây được coi là không có khả năng làm chứng:1° các bên trong vụ án, hoặc những người đại diện cho các bên trước tòa, thẩm phán và những người trợ tá của thẩm phán, luật sư và những người khác đang hay đã giúp đỡ các bên trong cùng một vụ án;2° các tư tế trong tất cả những điều họ biết được do việc thú tội trong bí tích Sám Hối, ngay cả khi hối nhân yêu cầu tiết lộ những điều ấy; hơn nữa, những gì nghe được do bất cứ ai và bằng bất cứ cách nào nhân dịp thú tội, cũng không thể được chấp nhận, dù chỉ như là dấu hiệu của sự thật.

Canon 1550

§1 Minors under the age of fourteen years and those who are of feeble mind are not admitted to give evidence. They can, however, be heard if the judge declares by a decree that it would be appropriate to do so.
§2 The following are deemed incapable of being witnesses:1° the parties in the case or those who appear at the trial in the name of the parties; the judge and his assistant; the advocate and those others who in the same case assist or have assisted the parties;2° priests, in respect of everything which has become known to them in sacramental confession, even if the penitent has asked that these things be made known. Moreover, anything that may in any way have been heard by anyone on the occasion of confession, cannot be accepted even as an indication of the truth.

Điều 1551

Bên nào đã đưa một nhân chứng ra tòa, thì có thể khước từ việc thẩm vấn nhân chứng ấy; nhưng đối phương có thể yêu cầu cứ thẩm vấn nhân chứng ấy.

Canon 1551

A party who has introduced a witness may forego the examination of that witness, but the opposing party may ask that the witness nevertheless be examined.

Điều 1552

§1. Khi được yêu cầu lấy chứng cớ qua các nhân chứng, thì phải cho tòa án biết tên và nơi cư trú của họ.
§2. Trong thời hạn do thẩm phán ấn định, phải trình bày những điểm nào muốn yêu cầu để thẩm vấn những nhân chứng; bằng không, lời yêu cầu sẽ được xem như đã bị hủy bỏ.

Canon 1552

§1 When proof by means of witnesses is sought, the names and addresses of the witnesses are to be communicated to the tribunal.
§2 The propositions on which the interrogation of the witnesses is requested, are to be submitted within the time-limit determined by the judge; otherwise, the request is to be deemed abandoned.

Điều 1553

Thẩm phán phải hạn chế đừng để cho có quá nhiều nhân chứng.

Canon 1553

It is for the judge to curb an excessive number of witnesses.

Điều 1554

Trước khi thẩm vấn các nhân chứng, phải thông báo tên của họ cho các bên; nhưng nếu theo sự thẩm định khôn ngoan của mình, thẩm phán thấy điều đó không thể thực hiện được mà không gây khó khăn nghiêm trọng, thì ít nhất phải thông báo tên của các nhân chứng trước khi công bố các lời chứng.

Canon 1554

Before witnesses are examined, their names are to be communicated to the parties. If, in the prudent opinion of the judge, this cannot be done without great difficulty, it is to be done at least before the publication of the evidence.

Điều 1555

Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1550, một bên có thể yêu cầu loại bỏ một nhân chứng, nếu có một lý do chính đáng để loại bỏ, trước khi nhân chứng ấy cung khai.

Canon 1555

Without prejudice to the provisions of can. 1550, a party may request that a witness be excluded, provided a just reason for exclusion is established before the witness is examined.

Điều 1556

Việc triệu tập một nhân chứng phải được thực hiện do sắc lệnh của thẩm phán, sắc lệnh này được thông báo cho nhân chứng cách hợp pháp.

Canon 1556

The summons of a witness is effected by a decree of the judge lawfully notified to the witness.

Điều 1557

Một nhân chứng được triệu tập cách hợp pháp thì phải trình diện hoặc phải cho thẩm phán biết lý do vắng mặt của mình.

Canon 1557

A properly summoned witness is to appear, or to make known to the judge the reason for being absent.

Điều 1558

§1. Những nhân chứng phải được thẩm vấn tại chính trụ sở tòa án, trừ khi thẩm phán định cách khác.
§2. Các Hồng Y, các Thượng Phụ, các Giám Mục và những người được hưởng đặc ân tương tự theo luật quốc gia của họ, phải được thẩm vấn tại nơi do chính họ lựa chọn.
§3. Thẩm phán phải quyết định về nơi chốn để thẩm vấn những người không thể hay khó đến trụ sở tòa án vì xa xôi, vì bệnh tật hay vì một ngăn trở nào khác, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1418 và 1469
§2.

Canon 1558

§1 Witnesses are to be examined at the office of the tribunal unless the judge deems otherwise.
§2 Cardinals, Patriarchs, Bishops, and those who in their own civil law enjoy a similar favour, are to be heard at the place selected by themselves.
§3 Without prejudice to the provisions of can. 1418 and 1469
§2, the judge is to decide where witnesses are to be heard for whom, by reason of distance, illness or other impediment, it is impossible or difficult to come to the office of the tribunal.

Điều 1559

Các bên không được tham dự cuộc chấp cung các nhân chứng, trừ khi thẩm phán thẩm định là phải cho họ tham dự, cách riêng trong các vụ án việc liên quan đến tư ích. Tuy nhiên, những luật sư hay những người đại diện của họ có thể tham dự, trừ khi thẩm phán thẩm định phải tiến hành cách bí mật, vì những hoàn cảnh sự việc hay con người.

Canon 1559

The parties cannot be present at the examination of the witnesses unless, especially when there is question of a private interest, the judge has determined that they are to be admitted. Their advocates or procurators, however, may attend, unless by reason of the circumstances of matter and persons, the judge has determined that the proceedings are to be in secret.

Điều 1560

§1. Các nhân chứng phải được thẩm vấn riêng từng người một.
§2. Nếu các nhân chứng bất đồng ý kiến với nhau hay với một bên về vấn đề quan trọng, thẩm phán có thể cho những người ấy gặp nhau, tức là đối chất với nhau, nhưng phải làm hết sức để tránh những bất hòa và gương xấu.

Canon 1560

§1 The witnesses are to be examined individually and separately.
§2 If in a grave matter the witnesses disagree either among themselves or with one of the parties, the judge may arrange for those who differ to meet or to confront one another, but must, in so far as possible, eliminate discord and scandal.

Điều 1561

Việc chấp cung các nhân chứng được thực hiện do thẩm phán hay do người được thẩm phán ủy nhiệm hoặc do một dự thẩm, và phải có sự hiện diện của công chứng viên; vì thế, trừ khi luật địa phương ấn định cách khác, nếu các bên, hay công tố viên, hay bảo hệ viên, hay những luật sư hiện diện trong cuộc chấp cung có điều gì muốn hỏi nhân chứng thì không được hỏi thẳng nhân chứng, nhưng phải đưa câu hỏi cho thẩm phán hay cho người thay thế thẩm phán, để chính người này hỏi lại nhân chứng.

Canon 1561

The examination of a witness is conducted by the judge, or by his delegate or an auditor, who is to be attended by a notary. Accordingly, unless particular law provides otherwise, if the parties or the promotor of justice or the defender of the bond or the advocates who are present at the hearing have additional questions to put to the witness, they are to propose these not to the witness, but to the judge, or to the one who is taking the judge’s place, so that he or she may put them.

Điều 1562

§1. Thẩm phán phải nhắc nhở, cho nhân chứng biết nghĩa vụ quan trọng phải nói hết mọi sự thật và chỉ nói sự thật mà thôi.
§2. Thẩm phán phải buộc nhân chứng tuyên thệ chiếu theo điều 1532; nhưng nếu nhân chứng từ chối tuyên thệ, thì cũng phải nghe người ấy cung khai, mặc dầu họ không tuyên thệ.

Canon 1562

§1 The judge is to remind the witness of the grave obligation to tell the whole truth and nothing but the truth.
§2 The judge is to administer an oath to the witness in accordance with can. 1532. If, however, a witness refuses to take an oath, he or she is to be heard unsworn.

Điều 1563

Trước tiên, thẩm phán phải kiểm chứng lý lịch của nhân chứng, phải hỏi nhân chứng có liên hệ gì với các bên, và khi đặt ra cho nhân chứng những câu hỏi riêng biệt liên quan đến vụ án, thẩm phán cũng phải hỏi cho biết chính xác nơi chốn và thời gian mà nhân chứng biết được những điều họ quả quyết.

Canon 1563

The judge is first of all to establish the identity of the witness. The relationship which the witness has with the parties is to be probed, and when specific questions concerning the case are asked of the witness enquiry is to be made into the sources of his or her knowledge and the precise time the witness came to know the matters which are asserted.

Điều 1564

Các câu hỏi phải ngắn gọn, hợp với tầm hiểu biết của người được thẩm vấn, không bao hàm một lúc nhiều vấn đề, không quanh co, không xảo quyệt, không gợi ra câu trả lời, hoặc không có tính cách khiêu khích bất cứ ai và phải liên quan đến vụ án đang được xét xử.

Canon 1564

The questions are to be brief, and appropriate to the understanding of the person being examined. They are not to encompass a number of matters at the same time, nor be captious or deceptive. They are not to be leading questions, nor give any form of offence. They are to be relevant to the case in question.

Điều 1565

§1. Những câu hỏi không được thông báo trước cho các nhân chứng.
§2. Tuy nhiên, nếu các sự kiện phải được làm chứng đã được quên đi đến nỗi nếu không được gợi lại trước thì sẽ không được quả quyết chắc chắn được, thẩm phán có thể nói trước cho nhân chứng một vài điểm, nếu nghĩ rằng điều đó không có gì nguy hại.

Canon 1565

§1 The questions are not to be made known in advance to the witnesses.
§2 If, however, the matters about which evidence is to be given are so remote in memory that they cannot be affirmed with certainty unless they are recalled beforehand, the judge may, if he thinks this can safely be done, advise the witness in advance about certain aspects of the matter.

Điều 1566

Các nhân chứng phải cung khai bằng miệng và không được đọc điều đã viết sẵn, trừ khi phải nói đến những việc tính toán và sổ sách; trong trường hợp này, họ có thể tham khảo những điều ghi chú họ đã mang theo.

Canon 1566

The witnesses are to give evidence orally. They are not to read from a script, except where there is a question of calculations or accounts; in this case, they may consult notes which they have brought with them.

Điều 1567

§1. Câu trả lời phải được công chứng viên ghi ngay trên giấy tờ và phải ghi nguyên văn những lời nói của nhân chứng, ít nhất đối với những vấn đề trực tiếp liên quan đến đối tượng của vụ án.
§2. Có thể chấp nhận việc sử dụng máy ghi âm, miễm là sau đó các câu trả lời phải được ghi chép lại trên giấy tờ, và nếu có thể, phải được những người cung khai ký tên vào.

Canon 1567

§1 The replies are to be written down at once by the notary. The record must show the very words of the evidence given, at least in what concerns those things which bear directly on the matter of the trial.
§2 The use of a tape-recorder is allowed, provided the replies are subsequently committed to writing and, if possible, signed by the deponents.

Điều 1568

Công chứng viên phải ghi vào các án từ lời thề đã được đọc, được miễn chuẩn hay bị từ chối, sự hiện diện của các bên và của những đệ tam nhân, các câu hỏi được thêm vào chiếu theo chức vụ, và nói chung, tất cả những gì đáng ghi nhớ đã xảy ra trong cuộc thẩm vấn các nhân chứng.

Canon 1568

The notary is to mention in the acts whether the oath was taken or excused or refused; who were present, parties and others; the questions added ex officio; and in general, everything worthy of record which may have occurred while the witnesses were being examined.

Điều 1569

§1. Thẩm vấn xong, phải đọc cho nhân chứng nghe những lời khai của họ đã được công chứng viên ghi lại trên giấy tờ hay đã được thu qua máy ghi âm, và phải cho nhân chứng được quyền thêm, bỏ, sửa chữa, thay đổi các lời đã cung khai.
§2. Tiếp đến, nhân chứng, thẩm phán và công chứng viên phải ký vào án từ.

Canon 1569

§1 At the conclusion of the examination, the record of the evidence, either as written down by the notary or as played back from the tape-recording, must be communicated to the witness, who is to be given the opportunity of adding to, omitting from, correcting or varying it.
§2 Finally, the witness, the judge and the notary must sign the record.

Điều 1570

Trước khi công bố các án từ hay những lời chứng, các nhân chứng, mặc dầu đã được thẩm vấn rồi, vẫn có thể được mời ra để thẩm vấn lần nữa, do một bên yêu cầu hoặc chiếu theo chức vụ, nếu thẩm phán thấy điều đó là cần thiết hay hữu ích, miễn là không có nguy cơ thông đồng hay hối lộ nào.

Canon 1570

Before the acts or the testimony are published, witnesses, even though already examined, may be called for re-examination, either at the request of a party or ex officio. This may be done if the judge considers it either necessary or useful, provided there is no danger whatever of collusion or of inducement.

Điều 1571

Tùy theo sự ước tính hợp tình hợp lý của thẩm phán, phải bồi thường cho các nhân chứng những phí tổn phải chịu cũng như những lợi tức đã mất vì phải ra tòa làm chứng.

Canon 1571

Witnesses must be refunded both the expenses they incurred and the losses they sustained by reason of their giving evidence, in accordance with the equitable assessment of the judge.

Điều 1572

Trong việc thẩm định các lời chứng, sau khi đã đòi phải có những chứng thư nếu cần, thẩm phán phải cứu xét:1° tư cách và tiếng tăm của nhân chứng;2° nhân chứng có cung khai điều họ biết hay không, nhất là điều do mắt thấy tai nghe, hoặc là theo ý kiến riêng của họ, hoặc do dư luận, hoặc do người khác nói lại;3° nhân chứng có nhất quán, kiên trì và mạch lạc với mình hay không, hoặc là hay thay đổi, hoặc là không chắc chắn, hoặc là do dự;4° điều mà nhân chứng quả quyết có được những nhân chứng khác hoặc những yếu tố chứng minh khác xác nhận hay không.

Canon 1572

In weighing evidence the judge may, if it is necessary, seek testimonial letters, and is to take into account:1° the condition and uprightness of the witness2° whether the knowledge was acquired at first hand, particularly ifit was something seen or heard personally, or whether it was opinion, rumour or hearsay;3° whether the witness is constant and consistent, or varies, is uncertain or vacillating;4° whether there is corroboration of the testimony, and whether it is confirmed or not by other items of evidence.

Điều 1573

Lời khai của một nhân chứng duy nhất không thể đáng tin hoàn toàn, trừ khi người đó là một nhân chứng có tư cách chuyên môn và cung khai những việc mà họ đã thực hiện trong khi thi hành nhiệm vụ, hoặc trừ khi hoàn cảnh sự việc và con người khuyến cáo cách khác.

Canon 1573

The deposition of one witness cannot amount to full proof, unless the witness is a qualified one who gives evidence on matters carried out in an official capacity, or unless the circumstances of persons and things persuade otherwise.

×

Mục Lục Giáo Luật

Vericath App

Cài đặt Vericath

Truy cập nhanh chóng và trải nghiệm mượt mà hơn trên màn hình chính của bạn.

Home