Điều 1446
§1. Tất cả các Kitô hữu, và nhất là các Giám Mục, phải cố gắng hết mình để tránh những vụ kiện tụng trong dân Chúa, ngần nào có thể, mà vẫn tôn trọng công lý, và phải dàn xếp cách ôn hòa càng sớm càng hay.
§2. Từ lúc khởi đầu vụ tranh tụng, và ngay cả vào bất cứ lúc nào khác, mỗi khi thấy có hy vọng đem lại kết quả tốt, thẩm phán đừng bỏ qua việc khuyên nhủ và giúp đỡ các bên để họ đồng lòng tìm một giải pháp hợp tình hợp lý cho việc tranh chấp và phải chỉ cho họ những đường lối thích hợp để đạt tới mục đích ấy, kể cả việc nhờ những người có uy tín làm trung gian.
§3. Nếu vụ kiện liên quan đến tư ích của các bên, thẩm phán phải xét xem cuộc tranh chấp có thể được kết thúc ổn thỏa hay không bằng cách điều đình, hoặc nhờ trọng tài phán đoán, chiếu theo quy tắc của các điều 1713-1716.
Canon 1446
§1 All Christ’s faithful, and especially Bishops, are to strive earnestly, with due regard for justice, to ensure that disputes among the people of God are as far as possible avoided, and are settled promptly and without rancour.
§2 In the early stages of litigation, and indeed at any other time as often as he discerns any hope of a successful outcome, the judge is not to fail to exhort and assist the parties to seek an equitable solution to their controversy in discussions with one another. He is to indicate to them suitable means to this end and avail himself of serious-minded persons to mediate.
§3 If the issue is about the private good of the parties, the judge is to discern whether an agreement or a judgement by an arbitrator, in accordance with the norms of cann. 1713-1716, might usefully serve to resolve the controversy.
Điều 1447
Người nào đã tham gia vào một vụ án với tư cách thẩm phán, công tố viên, bảo hệ viên, đại diện, luật sư, nhân chứng hoặc chuyên viên, thì sau đó không thể xét xử thành sự vụ án ấy ở cấp khác với tư cách là thẩm phán hoặc thi hành nhiệm vụ hội thẩm trong chính vụ án ấy.
Canon 1447
Any person involved in a case as judge, promotor of justice, defender of the bond, procurator, advocate, witness or expert cannot subsequently, in another instance, validly determine the same case as a judge or exercise the role of assessor in it.
Điều 1448
§1. Thẩm phán không được nhận xét xử một vụ án mà trong đó chính mình có một vài lợi ích cá nhân, vì có họ máu hay họ kết bạn trong bất cứ bậc nào theo hàng dọc và cho đến bậc thứ bốn theo hàng ngang, hay vì có sự bảo trợ và có chức quản tài, vì có tương giao thân mật, vì có một sự hận thù dai dẳng, vì được hưởng một lợi lộc hoặc tránh được một sự thiệt hại.
§2. Trong những trường hợp ấy, công tố viên, bảo hệ viên, hội thẩm và dự thẩm cũng phải tránh thi hành chức vụ.
Canon 1448
§1 The judge is not to undertake the hearing of a case in which any personal interest may be involved by reason of consanguinity or affinity in any degree of the direct line and up to the fourth degree of the collateral line, or by reason of guardianship or tutelage, or of close acquaintanceship or marked hostility or possible financial profit or loss.
§2 The promotor of justice, the defender of the bond, the assessor and the auditor must likewise refrain from exercising their offices in these circumstances.
Điều 1449
§1. Trong những trường hợp nói đến ở điều 1448, nếu chính thẩm phán không cáo thoái, một bên có thể khước từ thẩm phán.
§2. Vị Đại Diện tư pháp xét xử việc khước từ; nếu chính vị này bị khước từ, thì Giám Mục chủ trì tòa án sẽ xét xử.
§3. Nếu Giám Mục là thẩm phán và bị khước từ, ngài phải tránh việc xét xử.
§4. Nếu việc khước từ nhằm chống lại công tố viên, bảo hệ viên hoặc các viên chức khác của tòa án, vị chánh án tòa án hiệp đoàn hay chính thẩm phán, nếu là thẩm phán duy nhất, sẽ xét xử việc khước biện này.
Canon 1449
§1 In the cases mentioned in can. 1448, if the judge himself does not refrain from exercising his office, a party may object to him.
§2 The judicial Vicar is to deal with this objection. If the objection is directed against the judicial Vicar himself, the Bishop in charge of the tribunal is to deal with the matter.
§3 If the Bishop is the judge and the objection is directed against him, he is to refrain from judging.
§4 If the objection is directed against the promotor of justice, the defender of the bond or any other officer of the tribunal, it is to be dealt with by the presiding judge of a collegial tribunal, or by the sole judge if there is only one.
Điều 1450
Một khi đã chấp nhận việc khước từ, thì phải thay đổi các nhân sự, nhưng không được thay đổi các bậc xét xử.
Canon 1450
If the objection is upheld, the persons in question are to be changed, but not the grade of trial.
Điều 1451
§1. Vấn đề khước từ phải được giải quyết hết sức nhanh chóng, sau khi nghe các bên, công tố viên hay bảo hệ viên, nếu họ tham gia vào vụ án và chính họ không bị khước từ.
§2. Những hành vi do thẩm phán thực hiện trước khi bị khước từ vẫn thành sự, những hành vi được thực hiện sau khi việc khước từ được đưa ra phải được hủy bỏ, nếu một bên yêu cầu trong thời hạn mười ngày, kể từ lúc việc khước từ được chấp nhận.
Canon 1451
§1 The objection is to be decided with maximum expedition, after hearing the parties, the promotor of justice or the defender of the bond, if they are engaged in the trial and the objection is not directed against them.
§2 Acts performed by a judge before being objected to are valid. Acts performed after the objection has been lodged must be rescinded if a party requests this within ten days of the admission of the objection.
Điều 1452
§1. Trong một vụ án chỉ liên quan đến lợi ích riêng, thẩm phán chỉ có thể can thiệp theo sự thỉnh cầu của một bên. Nhưng khi vụ án đã được khởi tố cách hợp pháp, thẩm phán có thể và thậm chí, do chức vụ, phải can thiệp vào những vụ án hình sự hay những vụ án khác liên quan đến công ích của Giáo Hội hoặc phần rỗi các linh hồn.
§2. Ngoài ra, thẩm phán còn có thể bổ khuyết sự sơ xuất của các bên trong việc cung cấp các chứng cớ hoặc đưa ra những khước biện, mỗi khi nhận thấy điều đó là cần thiết để tránh một phán quyết bất công nghiêm trọng, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1600.
Canon 1452
§1 In a matter which concerns private persons exclusively, a judge can proceed only at the request of a party. In penal cases, however, and in other cases which affect the public good of the Church or the salvation of souls, once the case has been lawfully introduced, the judge can and must proceed ex officio.
§2 The judge can also supply for the negligence of the parties in bringing forward evidence or in opposing exceptions, whenever this is considered necessary in order to avoid a gravely unjust judgement, without prejudice to the provisions of can. 1600.
Điều 1453
Các thẩm phán và các tòa án phải lo liệu cho tất cả các vụ án được kết thúc càng sớm càng tốt, mà vẫn tôn trọng công lý; các vụ án sẽ không được kéo dài quá một năm ở tòa án cấp một, và không quá sáu tháng ở tòa án cấp hai.
Canon 1453
Judges and tribunals are to ensure that, within the bounds of justice, all cases are brought to a conclusion as quickly as possible. They are to see to it that in the tribunal of first instance cases are not protracted beyond a year, and in the tribunal of second instance not beyond six months.
Điều 1454
Tất cả mọi thành viên của tòa án hoặc những người cộng tác vào đó phải thề chu toàn nhiệm vụ một cách chu đáo và trung thành.
Canon 1454
All who constitute a tribunal or assist in it must take an oath to exercise their office properly and faithfully.
Điều 1455
§1. Trong một vụ án hình sự, các thẩm phán và các viên chức tòa án luôn buộc phải giữ bí mật thuộc chức vụ, còn trong một vụ án hộ sự, các vị đó cũng buộc như vậy, nếu sự tiết lộ án từ tố tụng nào đó có thể gây thiệt hại cho các bên.
§2. Các vị ấy cũng phải luôn luôn giữ bí mật về cuộc tranh luật giữa những thẩm phán trong tòa án hiệp đoàn trước khi phán quyết, cũng như về những lần bỏ phiếu khác nhau và về những ý kiến phát biểu trong cuộc tranh luận, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1609
§4.
§3. Hơn nữa, mỗi khi bản chất của vụ án hay của các chứng cớ có tính cách đặc biệt đến nỗi việc phổ biến các án từ hay các chứng cớ có nguy cơ làm mất thanh danh của người khác, hay làm cớ chia rẽ, gây gương xấu hay những sự bất tiện khác, thẩm phán có thể bắt buộc các nhân chứng, các chuyên viên, các bên, các luật sư hay các người đại diện của mỗi bên, phải thề giữ bí mật.
Canon 1455
§1 In a penal trial, the judges and tribunal assistants are bound to observe always the secret of the office; in a contentious trial, they are bound to observe it if the revelation of any part of the acts of the process could be prejudicial to the parties.
§2 They are also obliged to maintain permanent secrecy concerning the discussion held by the judges before giving their judgement, and concerning the various votes and opinions expressed there, without prejudice to the provisions of can. 1609
§4.
§3 Indeed, the judge can oblige witnesses, experts, and the parties and their advocates or procurators, to swear an oath to observe secrecy. This may be done if the nature of the case or of the evidence is such that revelation of the acts or evidence would put at risk the reputation of others, or give rise to quarrels, or cause scandal or have any similar untoward consequence.
Điều 1456
Cấm các thẩm phán và tất cả các viên chức của tòa án nhận bất cứ quà tặng nào nhân dịp xét xử vụ án.
Canon 1456
The judge and all who work in the tribunal are forbidden to accept any gifts on the occasion of a trial.
Điều 1457
§1. Những thẩm phán nào có thẩm quyền cách chắc chắn và hiển nhiên mà lại từ chối xét xử, hoặc những thẩm phán nào tự xưng mình có thẩm quyền khi không dựa trên một nền tảng nào theo quy dịnh của luật, mà lại xét xử và phán quyết các vụ án, hoặc vi phạm luật giữ bí mật, hoặc gây ra một thiệt hại khác cho những người tranh tụng, do man trá hay do quá lơ đễnh, có thể bị nhà chức trách có thẩm quyền trừng trị bằng những hình phạt thích đáng, kể cả việc bãi nhiệm.
§2. Những viên chức và những cộng tác viên của tòa án cũng phải chịu các chế tài như vậy, nếu họ không chu toàn nhiệm vụ như vừa nói trên đây; thẩm phán cũng có thể phạt tất cả những người ấy.
Canon 1457
§1 Judges can be punished by the competent authority with appropriate penalties, not excluding the loss of office, if, though certainly and manifestly competent, they refuse to give judgement; if, with no legal support, they declare themselves competent and hear and determine cases; if they breach the law of secrecy; or if, through deceit or serious negligence, they cause harm to the litigants.
§2 Tribunal officers and assistants are subject to the same penalties if they fail in their duty as above. The judge also has the power to punish them.