Đề mục 6. Công Bố Án Từ Kết Thúc Việc Thẩm Cứu Và Tranh Luận Về (Điều 1598-1606)

Điều 1598

§1. Sau khi đã thu thập được các chứng cớ, thẩm phán phải ra sắc lệnh cho phép các bên và các luật sư của họ được quyền tìm hiểu các án từ mà họ chưa biết, tại văn phòng tòa án, nếu không thì việc xét xử sẽ vô hiệu; hơn nữa, nếu các luật sư yêu cầu, thẩm phán cũng có thể trao cho họ một bản sao các án từ; tuy nhiên, trong những vụ án liên quan đến công ích, để tránh các nguy hiểm rất nghiêm trọng, thẩm phán có thể quyết định không tiết lộ cho ai một án từ nào cả, nhưng phải liệu sao để quyền bào chữa luôn được giữ nguyên vẹn.
§2. Để bổ sung những chứng cớ, các bên có thể trình cho thẩm phán những chứng cớ khác; sau khi đã thu thập được những chứng cớ đó rồi, nếu xét thấy cần, thẩm phán phải ra một sắc lệnh mới được ấn định ở
§1.

Canon 1598

§1 When the evidence has been assembled, the judge must, under pain of nullity, by a decree permit the parties and their advocates to inspect at the tribunal office those acts which are not yet known to them. Indeed, if the advocates so request, a copy of the acts can be given to them. In cases which concern the public good, however, the judge can decide that, in order to avoid very serious dangers, some part or parts of the acts are not to be shown to anyone; he must take care, however, that the right of defence always remains intact.
§2 To complete the evidence, the parties can propose other items of proof to the judge. When these have been assembled the judge can, if he deems it appropriate, again issue a decree as in
§1.

Điều 1599

§1. Sau khi đã hoàn tất mọi điều liên quan đến việc viện dẫn chứng cớ, thì đến giai đoạn kết thúc thẩm cứu.
§2. Giai đoạn kết thúc này xảy ra khi các bên tuyên bố không còn điều gì phải thêm vào hoặc khi đã hết thời gian hữu dụng do thẩm phán ấn định để đề xuất các chứng cớ, hoặc khi thẩm phán tuyên bố vụ án đã được thẩm cứu đủ rồi.
§3. Dù giai đoạn kết thúc xảy ra dưới hình thức nào đi chăng nữa, thẩm phán phải ra môt sắc lệnh tuyên bố kết thúc việc thẩm cứu.

Canon 1599

§1 When everything concerned with the production of evidence has been completed, the conclusion of the case is reached.
§2 This conclusion occurs when the parties declare that they have nothing further to add, or when the canonical time allotted by the judge for the production of evidence has elapsed, or when the judge declares that he considers the case to be sufficiently instructed.
§3 By whichever way the case has come to its conclusion, the judge is to issue a decree declaring that it is concluded.

Điều 1600

§1. Sau khi kết thúc việc thẩm cứu, thẩm phán còn có thể mời cùng những nhân chứng hay những nhân chứng khác hoặc có thể đòi thêm các chứng cớ khác mà trước đây chưa yêu cầu, nhưng chỉ giới hạn:1° trong những vụ án liên quan đến tư ích của các bên mà thôi, nếu tất cả mọi bên đều đồng ý;2° trong những vụ án khác, sau khi đã nghe các bên, và miễn là có một lý do nghiêm trọng, cũng như tránh được mọi nguy cơ gian lận hối lộ;3° trong tất cả mọi vụ án, mỗi khi nhận thấy rằng bản án sẽ bất công vì những lý do được nêu ra ở điều 1645
§2, 10- 30, nếu không nhận thêm chứng cớ mới này.
§2. Tuy nhiên, thẩm phán có thể ra lệnh hay cho phép trình bày một văn bản đã không thể được trình bày trước đó, mà không do lỗi của người liên hệ.
§3. Các chứng cớ mới phải được công bố theo những quy định của điều 1598
§1.

Canon 1600

Only in the following situations can the judge, after the conclusion of the case, still recall earlier witnesses or call new ones, or make provision for other evidence not previously requested:1° in cases in which only the private good of the parties is involved if all the parties agree;2° in other cases, provided that the parties have been consulted, that a grave reason exists, and that all danger of fraud or subornation is removed;3° in all cases, whenever it is probable that, unless new evidence is admitted, the judgement will be unjust for any of the reasons mentioned in can. 1645
§2, nn. 1-3.
§2 The judge can, however, command or permit the presentation of a document which, even without fault of the interested party, could not be presented earlier.
§3 New evidence is to be published according to can. 1598
§1.

Điều 1601

Sau khi kết thúc việc thẩm cứu, thẩm phán phải ấn định một thời gian thích hợp để các bên trình bày các lời bào chữa hay những nhận xét.

Canon 1601

When the case has been concluded, the judge is to determine a suitable period of time for the presentation of pleadings and observations.

Điều 1602

§1. Những lời bào chữa và những nhận xét phải được viết trên giấy tờ, trừ khi với sự đồng ý của các bên, thẩm phán xét rằng chỉ cần một cuộc tranh luận tại tòa là đủ rồi.
§2. Nếu muốn in những lời bào chữa và những tài liệu chính thì buộc phải có phép trước của thẩm phán, miễn là vẫn bảo vệ nghĩa vụ giữ bí mật, nếu có.
§3. Phải tuân theo quy luật của tòa án về mức độ dài ngắn của những lời bào chữa, số lượng bản in và những chi tiết khác như vậy.

Canon 1602

§1 Pleadings and observations are to be in writing unless the judge, with the consent of the parties, considers it sufficient to have a discussion before the tribunal in session.
§2 If the pleadings and the principal documents are to be printed, the prior permission of the judge is required, and the obligation of secrecy, where it exists, is still to be observed.
§3 The directions of the tribunal are to be observed in questions concerning the length of the pleadings, the number of copies and other similar matters.

Điều 1603

§1. Sau khi đã trao đổi với nhau những lời bào chữa và những nhận xét, mỗi bên được quyền trả lời trong thời gian ngắn do thẩm phán ấn định.
§2. Quyền này chỉ được ban cho các bên một lần mà thôi, trừ khi vì một lý do nghiêm trọng, thẩm phán xét thấy phải ban cho một lần thứ hai nữa; nhưng trong trường hợp này, quyền được ban cho bên này cũng coi như được ban cho bên kia nữa.
§3. Công tố viên và bảo hệ viên có quyền đối đáp những câu trả lời của các bên một lần nữa.

Canon 1603

§1 When the pleadings and observations have been exchanged, each party can make reply within a brief period of time determined by the judge.
§2 This right is given to the parties once only, unless for a grave reason the judge considers that the right to a second reply is to be given; if this right is given to one party, it is to be considered as given to the other as well.
§3 The promotor of justice and the defender of the bond have the right to respond to every reply of the parties.

Điều 1604

§1. Tuyệt đối cấm các bên, các luật sư hay cả những đệ tam nhân cung cấp cho thẩm phán những thông tin nằm ngoài các án từ của vụ kiện.
§2. Nếu việc tranh tụng đã được thực hiện trên giấy tờ, thẩm phán có thể ấn định cuộc tranh luận khẩu biện tại tòa, để làm sáng tỏ một vài vấn đề.

Canon 1604

§1 It is absolutely forbidden that any information given to the judge by the parties or the advocates, or by any other persons, be excluded from the acts of the case.
§2 If the pleadings in the case are made in writing, the judge may, in order to clarify any outstanding issues, order that a moderate oral discussion be held before the tribunal in session.

Điều 1605

Một công chứng viên phải tham dự cuộc tranh luận khẩu biện, được nói đến ở những điều 1602
§1 và 1604
§2, để có thể ghi ngay vào biên bản những điều đã được bàn cãi và những kết luận, nếu thẩm phán truyền lệnh, hoặc nếu một bên yêu cầu và nếu thẩm phán đồng ý.

Canon 1605

The notary is to be present at the oral discussion mentioned in cann. 1602
§1 and 1604
§2, so that, if the judge so orders, or the parties so request and the judge consents, the notary can immediately make a written report of what has been discussed and concluded.

Điều 1606

Nếu các bên chểnh mảng không lo chuẩn bị bào chữa cho mình trong thời gian hữu dụng, hoặc phó thác việc bào chữa cho sự hiểu biết và lương tâm của thẩm phán, và nếu thẩm phán nhận thấy là vấn đề đã hoàn toàn sáng tỏ qua các án từ và các chứng cớ, thì thẩm phán có thể tuyên án ngay, sau khi đã buộc công tố viên và bảo hệ viên phải đưa ra những nhận xét, nếu họ tham gia vào vụ kiện.

Canon 1606

If the parties neglect to prepare their pleadings within the time allotted to them, or if they entrust themselves to the knowledge and conscience of the judge, and if at the same time the judge perceives the matter quite clearly from the acts and the proofs, he can pronounce judgement at once. He must, however, seek the observations of the promotor of justice and the defender of the bond if they were engaged in the trial.

×

Mục Lục Giáo Luật

×

Nhảy đến Điều

Danh sách các Điều có trong mục này:

Vericath App

Cài đặt Vericath

Truy cập nhanh chóng và trải nghiệm mượt mà hơn trên màn hình chính của bạn.

Home