Điều 1501
Thẩm phán không được xét xử bất cứ vụ án nào, nếu không có đơn thỉnh nguyện do người có lợi ích hay do công tố viên, chiếu theo quy tắc của các điều luật.
Canon 1501
A judge cannot investigate any case unless a plea, drawn up in accordance with canon law, is submitted either by a person whose interest is involved, or by the promotor of justice.
Điều 1502
Ai muốn khởi tố một người nào phải đệ đơn lên thẩm phán có thẩm quyền, trong đơn phải trình bày đối tượng của sự tranh tụng và phải xin thẩm phán xét xử.
Canon 1502
A person who wishes to sue another must present a petition to a judge who is lawfully competent. In this petition the matter in dispute is to be set out and the intervention of the judge requested.
Điều 1503
§1. Thẩm phán có thể nhận lời thỉnh cầu miệng mỗi khi nguyên cáo bị ngăn trở không đệ đơn được, hay khi vụ án dễ cứu xét và không mấy quan trọng.
§2. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp này, thẩm phán phải truyền cho công chứng viên soạn thảo án từ trên giấy tờ, để đọc cho nguyên cáo nghe và để nguyên cáo chấp thuận, và án từ này thay thế đơn khởi tố của nguyên cáo xét về mọi hiệu lực pháp lý.
Canon 1503
§1 A judge can admit an oral plea whenever the plaintiff is impeded from presenting a petition or when the case can be easily investigated and is of minor significance.
§2 In both cases, however, the judge is to direct a notary to record the matter in writing. This written record is to be read to, and approved by, the plaintiff, and it takes the place of a petition written by the plaintiff as far as all effects of law are concerned.
Điều 1504
Đơn khởi tố phải:1° bày tỏ cho biết vụ án được khởi tố trước thẩm phán nào, yêu cầu điều gì và với ai;2° chỉ rõ nguyên cáo căn cứ vào luật nào, vào những sự kiện nào và vào những chứng cớ nào, ít là cách sơ lược, để xác minh những điều mình viện dẫn;3° được nguyên cáo hay người đại diện ký, phải để ngày, tháng và năm, cũng như địa chỉ của nguyên cáo và của người đại diện cư ngụ, hoặc những địa chỉ do họ chọn để nhận những án từ.
Canon 1504
The petition by which a suit is introduced must:1° state the judge before whom the case is being introduced, what is being sought and from whom it is being sought;2° indicate on what right the plaintiff bases the case and, at least in general terms, the facts and evidence to be submitted in support of the allegations made;3° be signed by the plaintiff or the plaintiff’s procurator, and bear the day, the month and the year, as well as the address at which the plaintiff or the procurator resides, or at which they say they reside for the purpose of receiving the acts;4° indicate the domicile or quasi-domicile of the respondent.
Điều 1505
§1. Sau khi đã xác nhận vụ kiện thuộc thẩm quyền của mình và nguyên cáo có đủ tư cách hợp pháp để ra toà, thẩm phán duy nhất hay vị chánh án tòa án hiệp đoàn phải ra sắc lệnh chấp đơn hay bác đơn sớm nhất.
§2. Đơn chỉ có thể bị bác:1° nếu thẩm phán hay tòa án không có thẩm quyền;2° nếu chắc chắn rằng nguyên cáo không có tư cách hợp pháp để khởi tố;3° nếu không tôn trọng những quy định của điều 1504, 10-30;4° nếu chắc chắn rằng, qua đơn khởi tố, sự thỉnh cầu thiếu mọi nền tảng và nếu chắc chắn rằng không thể tìm thấy một nền tảng nào qua tiến trình tố tụng.
§3. Nếu đã bị bác và những hà tỳ có thể sửa chữa được, nguyên cáo có thể soạn thảo đúng cách một đơn khởi tố mới để trình lại cho cùng vị thẩm phán đó.
§4. Trong trường hợp đơn bị bác, trong thời gian mười ngày, nguyên cáo luôn luôn có trọn quyền đệ đơn kháng cáo có viện dẫn lý do lên tòa kháng cáo hoặc lên thẩm phán đoàn, nếu đơn đã bị vị chánh án hiệp đoàn bác bỏ; vấn đề bác đơn này phải được giải quyết nhanh hết sức có thể.
Canon 1505
§1 Once he has satisfied himself that the matter is within his competence and the plaintiff has the right to stand before the court, the sole judge, or the presiding judge of a collegiate tribunal, must as soon as possible by his decree either admit or reject the petition.
§2 A petition can be rejected only if:1° the judge or the tribunal is not legally competent;2° it is established beyond doubt that the plaintiff lacks the right to stand before the court;3° the provisions of can. 1504 nn. 1-3 have not been observed4° it is certainly clear from the petition that the plea lacks any foundation, and that there is no possibility that a foundation will emerge from a process.
§3 If a petition has been rejected by reason of defects which can be corrected, the plaintiff can draw up a new petition correctly and present it again to the same judge.
§4 A party is always entitled, within ten canonical days, to have recourse, based upon stated reasons, against the rejection of a petition. This recourse is to be made either to the tribunal of appeal or, if the petition was rejected by the presiding judge, to the collegiate tribunal. A question of rejection is to be determined with maximum expedition.
Điều 1506
Nếu quá hạn định một tháng tính từ lúc nộp đơn, mà thẩm phán vẫn không ra sắc lệnh chấp đơn hay bác đơn, chiếu theo quy tắc của điều 1505, bên liên hệ có thể yêu cầu thẩm phán thi hành nhiệm vụ của mình; nếu quá mười ngày, kể từ ngày yêu cầu, mà thẩm phán vẫn không trả lời, thì coi như đơn đã được chấp nhận.
Canon 1506
If within a month of the presentation of a petition, the judge has not issued a decree admitting or rejecting it in accordance with can. 1505, the interested party can insist that the judge perform his duty. If, notwithstanding this, the judge does not respond within ten days of the party’s request, the petition is to be taken as having been admitted. ACTS
Điều 1507
§1. Trong sắc lệnh chấp nhận đơn của nguyên cáo, thẩm phán hay vị chánh án phải mời hay triệu tập các đương sự khác ra tòa để xác định đối tượng tranh tụng, bằng việc quyết định cho các đương sự này phải trả lời bằng giấy tờ hay phải trình diện trước mặt mình để thoả thuận với nhau về những nghi vấn. Nếu những câu trả lời bằng giấy tờ cho thấy sự cần thiết phải triệu tập các bên, thẩm phán hay vị chánh án có thể ấn định điều đó bằng một sắc lệnh mới.
§2. Nếu đơn được xem là được chấp nhận chiếu theo quy tắc của điều 1506, sắc lệnh triệu tập ra tòa phải được ban hành trong vòng hai mươi ngày kể từ ngày yêu cầu, như nói ở điều ấy.
§3. Nếu trong thực tế các bên đối tụng tự động đến trình diện trước thẩm phán để giải quyết vụ án thì không cần phải triệu tập nữa, nhưng một công chứng viên phải ghi chú trong các án từ là các bên đã có mặt tại toà.
Canon 1507
§1 In the decree by which a plaintiff’s petition is admitted, the judge or the presiding judge must call or summon the other parties to court to effect the joinder of the issue; he must prescribe whether, in order to agree the point at issue, they are to reply in writing or to appear before him. If, from their written replies, he perceives the need to convene the parties, he can determine this by a new decree.
§2 If a petition is deemed admitted in accordance with the provisions of can. 1506, the decree of summons to the trial must be issued within twenty days of the request of which that canon speaks.
§3 If the litigants in fact present themselves before the judge to pursue the case, there is no need for a summons; the notary, however, is to record in the acts that the parties were present at the trial.
Điều 1508
§1. Sắc lệnh triệu tập ra tòa phải được thông báo ngay cho bị cáo và đồng thời cũng phải được thông báo cho những người nào phải ra trình diện.
§2. Đơn khởi tố phải đính kèm với lệnh triệu tập, trừ khi vì những lý do quan trọng, thẩm phán nhận thấy không cần cho bị cáo biệt đơn đó, trước khi người này cung khai tại toà.
§3. Nếu vụ kiện nhằm chống lại người không được tự do sử dụng các quyền của mình hay không được tự do quản trị những tài sản đang bị tranh chấp, thì lệnh triệu tập phải được thông báo, tùy trường hợp, cho người giám hộ, cho người quản tài, cho người đại diện đặc biệt hay cho người nào phải bảo vệ vụ án nhân danh bị cáo chiếu theo luật.
Canon 1508
§1 The decree of summons to the trial must be notified at once to the respondent, and at the same time to any others who are obliged to appear.
§2 The petition introducing the suit is to be attached to the summons, unless for grave reasons the judge considers that the petition is not to be communicated to the other party before he or she gives evidence.
§3 If a suit is brought against a person who does not have the free exercise of personal rights, or the free administration of the matters in dispute, the summons is to be notified to, as the case may be, the guardian, the curator, the special procurator, or the one who according to law is obliged to undertake legal proceedings in the name of such a person.
Điều 1509
§1. Việc thông báo các giấy triệu tập, các sắc lệnh, các phán quyết và các án từ tư pháp khác phải được thực hiện qua bưu điện hay bằng cách nào chắc chắn nhất, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của luật địa phương.
§2. Sự kiện và cách thức thông báo phải được ghi chú trong các án từ.
Canon 1509
§1 With due regard to the norms laid down by particular law, the notification of summonses, decrees, judgements and other judicial acts is to be done by means of the public postal service, or by some other particularly secure means.
§2 The fact and the manner of notification must be shown in the acts.
Điều 1510
Bị cáo nào từ chối không nhận giấy triệu tập hay ngăn cản không cho giấy triệu tập đến tay mình, thì được coi như đã được triệu tập cách hợp lệ.
Canon 1510
A respondent who refuses to accept a document of summons, or who circumvents the delivery of a summons, is to be regarded as lawfully summoned.
Điều 1511
Nếu lệnh triệu tập không được thông báo cách hợp pháp, các án từ của vụ kiện đều vô hiệu, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1507
§3.
Canon 1511
Without prejudice to the provision of can. 1507
§3, if a summons has not been lawfully communicated, the acts of the process are null.
Điều 1512
Khi lệnh triệu tập đã được thông báo cách hợp pháp, hoặc các bên đã ra trình diện trước thẩm phán để giải quyết vụ án:1° sự việc không còn ở nguyên trạng nữa;2° vụ án thuộc riêng về thẩm phán hoặc về tòa án có thẩm quyền là nơi đơn khởi tố đã được nộp;3° quyền tài phán của thẩm phán thụ ủy được củng cố đến nỗi quyền này không chấm dứt, ngay cả khi cả người chủ ủy hết quyền;4° thời hiệu bị gián đoạn, trừ khi đã dự liệu cách khác;5° cuộc tranh tụng bắt đầu; vì vậy phải lập tức áp dụng nguyên tắc: “bao lâu cuộc tranh tụng chưa ngã ngũ thì không được thay đổi gì hết”.
Canon 1512
Once a summons has been lawfully communicated, or the parties have presented themselves before a judge to pursue the case:1° the matter ceases to be a neutral one;2° the case becomes that of the judge or of the tribunal, in other respects lawfully competent, before whom the action was brought;3° the jurisdiction of a delegated judge is established in such a way that it does not lapse on the expiry of the authority of the person who delegated;4° prescription is interrupted, unless otherwise provided;5° the suit begins to be a pending one, and therefore the principle immediately applies ‘while a suit is pending, no new element is to be introduced’.
Điều 1513
§1. Cuộc đối tụng xảy ra khi thẩm phán ra sắc lệnh xác định những giới hạn của cuộc tranh tụng được rút ra từ những lời thỉnh cầu và những phúc đáp của các bên.
§2. Những lời thỉnh cầu và những phúc đáp của các bên, ngoài điều trình bày trong đơn khởi tố, có thể được diễn tả qua thư phúc đáp lệnh triệu tập hoặc qua những lời tuyên bố bằng miệng trước thẩm phán; nhưng trong những vụ án khó hơn, thẩm phán phải triệu tập các bên để thỏa thuận với nhau về một hay những nghi vấn phải được trả lời trong văn bản.
§3. Sắc lệnh của thẩm phán phải được thông báo cho các bên, nếu họ không đồng ý, thì trong hạn mười ngày, họ có thể kháng cáo lên chính thẩm phán để xin sửa đổi sắc lệnh; nhưng vấn đề này phải được chính thẩm phán đó giải quyết hết sức nhanh chóng bằng một sắc lệnh.
Canon 1513
§1 The joinder of the issue occurs when the terms of the controversy, as derived from the pleas and the replies of the parties, are determined by a decree of the judge.
§2 The pleas and the replies of the parties may be expressed not only in the petition introducing the suit, but also either in the response to the summons, or in statements made orally before the judge. In more difficult cases, however, the parties are to be convened by the judge, so as to agree the question or questions to which the judgement must respond.
§3 The decree of the judge is to be notified to the parties. Unless they have already agreed on the terms, they may within ten days have recourse to the same judge to request that the decree be altered. This question, however, is to be decided with maximum expedition by a decree of the judge.
Điều 1514
Một khi đã được xác định, những giới hạn của việc tranh tụng chỉ có thể được sửa đổi cách hữu hiệu bằng một sắc lệnh mới, vì một lý do hệ trọng, theo sự thỉnh cầu của một đương sự, sau khi đã nghe ý kiến của những đương sự khác cũng như đã cân nhắc những lý lẽ của họ.
Canon 1514
Once determined, the terms of the controversy cannot validly be altered except by a new decree, issued for a grave reason, at the request of the party, and after the other parties have been consulted and their observations considered.
Điều 1515
Sau cuộc đối tụng, người chấp hữu của cải của kẻ khác không còn là ngay tình nữa, vì thế, nếu bị kết án phải hoàn lại của cải ấy, họ cũng phải trả lại những hoa lợi thu được kể từ ngày đối tụng và phải bồi thường các thiệt hại.
Canon 1515
Once the joinder of the issue has occurred, the possessor of another’s property ceases to be in good faith. If, therefore, the judgement is that he or she return the property, the possessor must return also any profits accruing from the date of the joinder, and must compensate for damages.
Điều 1516
Sau cuộc đối tụng, thẩm phán phải ấn định cho các bên một khoảng thời gian thích hợp để họ xuất trình và bổ sung những chứng cớ.
Canon 1516
Once the joinder of the issue has occurred, the judge is to prescribe an appropriate time within which the parties are to present and to complete the evidence.
Điều 1517
Vụ kiện bắt đầu từ lệnh triệu tập, nhưng chấm dứt không những bằng việc tuyên án chung kết, mà còn bằng những cách thức khác do luật ấn định trước.
Canon 1517
The trial of the issue is initiated by the summons. It is concluded not only by the pronouncement of the definitive judgement, but also by other means determined by law.
Điều 1518
Trong trường hợp một bên đối tụng chết hoặc thay đổi hoàn cảnh sống hoặc chấm dứt chức vụ mà họ căn cứ vào đó để khởi tố:1° nếu việc thẩm vấn vụ án chưa kết thúc, vụ kiện phải được đình hoãn cho đến khi người kế thừa của người quá cố hoặc người kế vị hoặc người có quyền tiếp tục vụ kiện;2° nếu việc thẩm vấn vụ án đã kết thúc, thẩm phán phải tiếp thụ vụ kiện bằng việc triệu tập người đại diện, nếu có, bằng không, triệu tập người thừa kế hay người kế vị của người quá cố.
Canon 1518
If a litigant dies, or undergoes a change in status, or ceases from the office in virtue of which he or she was acting:1° if the case has not yet been concluded, the trial is suspended until the heir of the deceased, or the successor, or a person whose interest is involved, resumes the suit2° if the case has been concluded, the judge must proceed to theremaining steps of the case, having first summoned the procurator, if there is one, or else the heir or the successor of the deceased.
Điều 1519
§1. Nếu người giám hộ hay người quản tài hay người đại diện cần phải có chiếu theo điều 1481 §
§1 và 3, chấm dứt nhiệm vụ, thì vụ kiện được tạm thời đình hoãn.
§2. Nhưng thẩm phán phải sớm hết sức đặt một người giám hộ hay một người quản tài khác, thẩm phán cũng có thể đặt một người đại diện cho cuộc tranh tụng, nếu đương sự lơ là làm việc đó trong thời hạn ngắn do chính thẩm phán ấn định.
Canon 1519
§1 If the guardian or the curator or the procurator required in accordance with can. 1481 §
§1 and 3, ceases from office, the trial is suspended for the time being.
§2 However, the judge is to appoint another guardian or curator as soon as possible. He can appoint a procurator ad litem if the party has neglected to do so within the brief time prescribed by the judge himself.
Điều 1520
Nếu trong vòng sáu tháng mà các bên không thực hiện một hành vi tố tụng nào, mặc dầu họ không bị ngăn trở gì, thì vụ án thất hiệu. Luật địa phương có thể ấn định hạn kỳ thất hiệu khác.
Canon 1520
If over a period of six months, no procedural act is performed by the parties, and they have not been impeded from doing so, the trial is abated. Particular law may prescribe other time limits for abatement.
Điều 1521
Sự thất hiệu có giá trị do chính luật và chống lại tất cả mọi người, kể cả những người vị thành niên hay những người được đồng hóa với người vị thành niên, và cũng phải được tuyên bố chiếu theo chức vụ, miễn là vẫn giữ nguyên quyền đòi những người giám hộ, những người quản tài, những người đại diện phải bồi thường, nếu họ không chứng minh được họ không có lỗi.
Canon 1521
Abatement takes effect by virtue of the law itself, and it is effective against everyone, even minors and those equivalent to minors; moreover, it must be declared even ex officio. This, however, is without prejudice to the right to claim compensation against those guardians, curators, administrators and procurators who have not proved that they were without fault.
Điều 1522
Sự thất hiệu vô hiệu hóa những án từ tố tụng chứ không vô hiệu hóa những án từ của vụ án; hơn nữa, những án từ của vụ án còn có thể có hiệu lực ở tòa án cấp khác, miễn là vụ án có dính líu đến cùng những nhân vật ấy và nhằm cùng một vấn đề; nhưng đối với những người ngoài cuộc, những án từ chỉ có giá trị như là tài liệu mà thôi.
Canon 1522
Abatement extinguishes the acts of the process, but not the acts of the case. The acts of the case may indeed be employed in another instance, provided the case is between the same persons and about the same matter. As far as those outside the case are concerned, however these acts have no standing other than as documents. [According to an Authentic Interpretation of canons 1522 and 1525, 17.V.1986, if an instance is finished through abatement or renunciation, it does not have to be resumed in the forum where it was first dealt with, but can be introduced before another tribunal which is competent at the time of the resumption]
Điều 1523
Mỗi bên phải trang trải những phí tổn của một vụ án bị thất hiệu do chính họ gây ra từ những sự tranh tụng.
Canon 1523
When a trial has been abated, the litigants are to bear the expenses which each has incurred.
Điều 1524
§1. Nguyên cáo có thể bãi nại ở bất cứ giai đoạn nào và bất cứ cấp bậc nào của vụ kiện; cũng thế, cả nguyên cáo lẫn bị cáo có thể khước từ tất cả mọi án từ tố tụng hay chỉ một vài án từ tố tụng trong số đó mà thôi.
§2. để có thể bãi nại, những người giám hộ và những người quản trị của các pháp nhân cần có ý kiến hay sự đồng ý của những người mà sự cộng tác của họ là cần thiết để thực hiện những hành vi vượt quá giới hạn của việc quản trị thông thường.
§3. Để có hiệu lực, việc bãi nại phải được viết trên giấy tờ, và phải do một bên hoặc do người đại diện của họ ký, nhưng người đại diện phải có giấy ủy nhiệm đặc biệt; việc bãi nại phải được thông báo cho bên kia và được bên kia chấp nhận, hay ít là không bị phản đối, và phải được thẩm phán chấp nhận.
Canon 1524
§1 The plaintiff may renounce a trial at any stage or at any grade. Likewise, both the plaintiff and the respondent may renounce the acts of the process either in whole or only in part.
§2 To renounce the trial of an issue, guardians and administrators of juridical persons must have the advice or the consent of those whose agreement is required to conduct negotiations which exceed the limits of ordinary administration.
§3 To be valid, a renunciation must be in writing, and must be signed either by the party, or by a procurator who has been given a special mandate for this purpose; it must be communicated to the other party, who must accept or at least not oppose it; and it must be admitted by the judge.
Điều 1525
Một khi đã được thẩm phán chấp nhận, việc bãi nại có cùng những hiệu quả như sự thất hiệu của vụ kiện đối với những án từ đã bị khước từ và việc bãi nại cũng buộc người bãi nại phải gánh chịu những phí tổn của những án từ mà họ đã khước từ.
Canon 1525
Once a renunciation has been admitted by the judge, it has the same effects for the acts which have been renounced as has an abatement of the trial. Likewise, it obliges the person renouncing to pay the expenses of those acts which have been renounced. [See Authentic Interpretation of canons 1522 and 1525, 17.V.1986, mentioned under can. 1522, above]
Điều 1526
§1. Ai đã quả quyết thì có nghĩa vụ phải chứng minh.
§2. Không cần phải trưng dẫn chứng cớ:1° những điều do chính luật suy đoán;2° những sự kiện do một bên tranh tụng quả quyết và được bên kia thừa nhận, nhưng trừ khi luật hoặc thẩm phán đòi thêm chứng cớ.
Canon 1526
§1 The onus of proof rests upon the person who makes an allegation.
§2 The following matters do not require proof:1° matters which are presumed by the law itself;2° facts alleged by one of the litigants and admitted by the other, unless their proof is nevertheless required either by law or by the judge.
Điều 1527
§1. Có thể viện dẫn bất cứ loại chứng cớ nào, miễn là những chứng cớ này được xem là hữu ích để thẩm cứu vụ án và phải hợp pháp.
§2. Nếu một bên yêu cầu thừa nhận một chứng cớ đã bị thẩm phán loại bỏ, thì chính thẩm phán này phải giải quyết vấn đề hết sức nhanh chóng.
Canon 1527
§1 Any type of proof which seems useful for the investigation of the case and is lawful, may be admitted.
§2 If a party submits that proof, which has been rejected by the judge, should be admitted, the judge is to determine the matter with maximum expedition.
Điều 1528
Nếu một bên hay một nhân chứng từ chối trình diện để trả lời trước thẩm phán, thì được phép hỏi cung họ kể cả việc nhờ một giáo dân do thẩm phán chỉ định hoặc yêu cầu họ khai trước mặt một công chứng viên dân sự hay bằng bất cứ cách thức hợp thức nào khác.
Canon 1528
If a party or a witness refuses to testify before the judge, that person may lawfully be heard by another, even a lay person, appointed by the judge, or asked to make a declaration either before a public notary or in any other lawful manner.
Điều 1529
Thẩm phán không được tiến hành việc thu thập chứng cớ trước khi có đối tụng, trừ khi có một lý do nghiêm trọng.
Canon 1529
Unless there is a grave reason, the judge is not to proceed to collect the proofs before the joinder of the issue.
Điều 1530
Thẩm phán luôn luôn có thể thẩm vấn các bên để phát hiện rõ sự thật, hơn nữa, thẩm phán phải làm việc đó khi một bên yêu cầu hay để chứng minh một sự kiện mà công ích đòi phải được đặt ra ngoài mọi sự hồ nghi.
Canon 1530
The judge may always question the parties the more closely to elicit the truth. He must do so if requested by one of the parties, or in order to prove a fact which the public interest requires to be placed beyond doubt.
Điều 1531
§1. Đương sự nào được thẩm vấn cách hợp pháp buộc phải trả lời và phải nói hết sự thật.
§2. Nếu đương sự từ chối trả lời, thẩm phán thẩm định xem điều gì có thể được rút ra từ đó để chứng minh các sự kiện.
Canon 1531
§1 A party who is lawfully questioned is obliged to respond and to tell the whole truth.
§2 If a party has refused to reply, it is for the judge to evaluate what, as far as the proof of the facts is concerned, can be deduced therefrom.
Điều 1532
Trong những trường hợp liên quan đến công ích, thẩm phán yêu cầu các bên phải thề là họ sẽ nói sự thật, hoặc ít nhất họ phải thề là họ đã nói sự thật, trừ khi có một lý do nghiêm trọng khuyên làm cách khác; trong những trường hợp khác, thẩm phán có thể làm điều đó tùy sự khôn ngoan của mình.
Canon 1532
Unless a grave reason suggests otherwise, in cases in which the public good is at stake the judge is to administer to the parties an oath that they will tell the truth, or at least that what they have said is the truth. In other cases, it is left to the prudent discretion of the judge to determine whether an oath is to be administered.
Điều 1533
Các bên, công tố viên và bảo hệ viên có thể đệ trình cho thẩm phán những câu hỏi mà dựa theo đó một bên sẽ bị thẩm vấn.
Canon 1533
The parties, the promotor of justice and the defender of the bond may submit to the judge propositions upon which a party is to be questioned.
Điều 1534
Các quy tắc được ấn định ở các điều 1548
§2, 10, 1552 và 1558-1565 về các nhân chứng, cũng được áp dụng thích hợp trong việc thẩm vấn các bên.
Canon 1534
The provisions of cann. 1548
§2, n. 1, 1552 and 1558-1565 concerning witnesses are to be observed, with the appropriate qualifications, in the questioning of the parties.
Điều 1535
Lời tự thú tư pháp là lời thú nhận rằng một sự kiện liên quan đến chính đối tượng của vụ án đi ngược lại quyền lợi riêng của mình, do một bên nói miệng hoặc viết trên giấy tờ, hoặc tự ý hoặc do thẩm phán hỏi cung, trước mặt thẩm phán có thẩm quyền.
Canon 1535
A judicial confession is an assertion of fact against oneself, concerning a matter relevant to the trial, which is made by a party before a judge who is legally competent; this is so whether the assertion is made in writing or orally, whether spontaneously or in response to the judge’s questioning.
Điều 1536
§1. Lời tự thú tư pháp của một đương sự, nếu thuộc một vấn đề riêng tư và không liên quan đến công ích, thì miễn chuẩn cho các đương sự khác khỏi phải trưng dẫn chứng cớ.
§2. Tuy nhiên, trong những vụ án liên quan đến công ích, lời tự thú tư pháp và những lời khai không có tính cách tự thú của các bên, có thể có giá trị chứng minh, thẩm phán phải thẩm định lời tự thú tư pháp và những lời khai đó trong tương quan với những yếu tố khác của vụ án; nhưng chúng không thể có giá trị chứng minh hoàn toàn nếu không được xác minh bằng những yếu tố vững chắc khác.
Canon 1536
§1 In a private matter and where the public good is not at stake, a judicial confession of one party relieves the other parties of the onus of proof.
§2 In cases which concern the public good, however, a judicial confession, and declarations by the parties which are not confessions, can have a probative value that is to be weighed by the judge in association with the other circumstances of the case, but the force of full proof cannot be attributed to them unless there are other elements which wholly corroborate them.
Điều 1537
Đối với lời tự thú ngoài tư pháp được trưng dẫn trong một vụ kiện, thẩm phán phải thẩm định xem lời tự thú đó có giá trị đến mức nào, sau khi đã cân nhắc tất cả mọi hoàn cảnh của vụ án.
Canon 1537
It is for the judge, having considered all the circumstances, to evaluate the weight to be given to an extra-judicial confession which is introduced into the trial.
Điều 1538
Một lời tự thú hay bất cứ lời khai nào khác của một đương sự sẽ không có giá trị, nếu xác nhận được rằng sự tự thú dựa trên sự lầm lẫn về sự kiện hoặc vì bạo lực hay vì một sự sợ hãi nghiêm trọng.
Canon 1538
A confession, or any other declaration of a party, is devoid of all force if clearly shown to be based on an error of fact or to have been extracted by force or grave fear.
Điều 1539
Việc chứng minh bằng tài liệu, công cũng như tư, được chấp nhận trong bất cứ vụ kiện nào.
Canon 1539
In every type of trial documentary proof is admitted, whether the documents be public or private.
Điều 1540
§1. Những tài liệu công của Giáo Hội là những tài liệu do một viên chức soạn thảo khi thi hành nhiệm vụ của mình trong Giáo Hội, trong khi vẫn tuân giữ những thể thức do luật quy định.
§2. Những tài liệu công dân sự là những tài liệu mà luật pháp địa phương công nhận như thế.
§3. Những tài liệu khác là những tài liệu tư.
Canon 1540
§1 Public ecclesiastical documents are those which an official person draws up in the exercise of his or her function in the Church and in which the formalities required by law have been observed.
§2 Public civil documents are those which are legally regarded as such in accordance with the laws of each place.
§3 All other documents are private.
Điều 1541
Trừ khi có những luận cứ trái ngược và hiển nhiên chứng minh cách khác, những tài liệu công chứng thực tất cả những điều được quả quyết trực tiếp và chính yếu trong đó.
Canon 1541
Unless it is otherwise established by contrary and clear arguments, public documents constitute acceptable evidence of those matters which are directly and principally affirmed in them.
Điều 1542
Một tài liệu tư, do một bên thừa nhận hay được thẩm phán chấp nhận, có hiệu lực chứng minh như lời tự thú ngoài tư pháp chống lại tác giả hay người ký tên và những người kế quyền của họ; đối với những đệ tam nhân, tài liệu nói trên chỉ có hiệu lực chứng minh như những lời khai không có tính cách tự thú của các bên, chiếu theo quy tắc của điều 1536
§2.
Canon 1542
A private document, whether acknowledged by a party or admitted by a judge, has the same probative force as an extra-judicial confession, against its author or the person who has signed it and against persons whose case rests on that of the author or signatory. Against others it has the same force as have declarations by the parties which are not confessions, in accordance with can. 1536
§2.
Điều 1543
Nếu chứng minh được rằng các tài liệu có những vết tẩy xóa, sửa chữa, thêm thắt hay hà tỳ nào khác, thẩm phán thẩm định xem tài liệu ấy có đáng tin không và đáng tin tới mức nào.
Canon 1543
If documents are shown to have been erased, amended, falsified or otherwise tampered with, it is for the judge to evaluate to what extent, if any, they are to be given credence.
Điều 1544
Những tài liệu không có hiệu lực chứng minh trong một vụ kiện, nếu đó không phải là những bản chính hoặc những bản sao đã được công chứng và nếu không được đệ nạp ở văn phòng tòa án, để thẩm phán và đối phương có thể nghiên cứu được.
Canon 1544
Documents do not have probative force at a trial unless they are submitted in original form or in authentic copy and are lodged in the office of the tribunal, so that they may be inspected by the judge and by the opposing party.
Điều 1545
Thẩm phán có quyền ra lệnh xuất trình trong vụ kiện một tài liệu chung cho cả hai bên.
Canon 1545
The judge can direct that a document common to each of the parties is to be submitted in the process.
Điều 1546
§1. Không ai bị bắt buộc phải xuất trình những tài liệu, dù là những tài liệu chung, khi việc trao đổi những tài liệu ấy có nguy cơ gây ra thiệt hại, chiếu theo quy tắc của điều 1548
§2, 20, hoặc có nguy cơ vi phạm việc giữ bí mật.
§2. Tuy nhiên, nếu có thể trích lục ít là một phần nào đó của tài liệu và trình bày dưới dạng bản sao mà không gây ra những bất tiện nêu trên, thì thẩm phán có thể ra lệnh xuất trình phần tài liệu ấy.
Canon 1546
§1 No one is obliged to exhibit documents, even if they are common, which cannot be communicated without danger of the harm mentioned in can. 1548
§2, n. 2, or without the danger of violating a secret which is to be observed.
§2 If, however, at least an extract from a document can be transcribed and submitted in copy without the disadvantages mentioned, the judge can direct that it be produced in that form.
Điều 1547
Bằng chứng qua các nhân chứng được chấp nhận trong bất cứ vụ án nào, dưới sự điều hành của thẩm phán.
Canon 1547
Proof by means of witnesses is admitted in all cases, under the direction of the judge.
Điều 1548
§1. Các nhân chứng phải nói sự thật khi họ được thẩm phán hỏi cách hợp pháp.
§2. Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1550
§2, 20, những người sau đây được miễn trả lời:1° các giáo sĩ trong những vấn đề để họ biết được do tác vụ thánh; các viên chức dân sự, các thầy thuốc, các nữ hộ sinh, các luật sư, các công chứng viên và tất cả những người buộc phải giữ bí mật nghề nghiệp, kể cả những người mang danh hiệu cố vấn, trong tất cả những vấn đề thuộc về bí mật này;2° những người sợ rằng việc làm chứng của họ sẽ làm cho chính bản thân họ, hoặc cho người phối ngẫu, hoặc cho những thân nhân thuộc họ máu hay họ kết bạn, bị mất thanh danh, bị đối xử tàn tệ, hay bị những hiểm họa khác.
Canon 1548
§1 Witnesses must tell the truth to a judge who lawfully questions them.
§2 Without prejudice to the provisions of can. 1550
§2, n. 2, the following are exempted from the obligation of replying to questions:1° clerics, in those matters revealed to them by reason of their sacred ministry; civil officials, doctors, midwives, advocates, notaries and others who are bound by the secret of their office, even on the ground of having offered advice, in respect of matters subject to this secret; [Vos estis lux mundi, 25.III.2023, art. 4
§1 states that to make a report pursuant to art. 3 of the same document shall not constitute a violation of confidentiality] [On the compatibility of the provisions of Vos estis lux mundi and the sacramental seal, see the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 16689/2019, 3.IX.2019]2° those who fear that, as a result of giving evidence, a loss of reputation, dangerous harassment or some other grave evil will arise for themselves, their spouses, or those related to them by consanguinity or affinity.
Điều 1549
Tất cả mọi người đều có thể làm chứng, nếu họ không bị luật minh nhiên loại bỏ hoàn toàn hay một phần.
Canon 1549
Everyone can be a witness, unless expressly excluded, whether wholly or in part, by the law.
Điều 1550
§1. Những người vị thành niên dưới mười bốn tuổi và những người suy nhược tâm thần không được nhận làm nhân chứng, nhưng họ có thể được hỏi ý kiến do sắc lệnh của thẩm phán tuyên bố rằng điều đó hữu ích.
§2. Những người sau đây được coi là không có khả năng làm chứng:1° các bên trong vụ án, hoặc những người đại diện cho các bên trước tòa, thẩm phán và những người trợ tá của thẩm phán, luật sư và những người khác đang hay đã giúp đỡ các bên trong cùng một vụ án;2° các tư tế trong tất cả những điều họ biết được do việc thú tội trong bí tích Sám Hối, ngay cả khi hối nhân yêu cầu tiết lộ những điều ấy; hơn nữa, những gì nghe được do bất cứ ai và bằng bất cứ cách nào nhân dịp thú tội, cũng không thể được chấp nhận, dù chỉ như là dấu hiệu của sự thật.
Canon 1550
§1 Minors under the age of fourteen years and those who are of feeble mind are not admitted to give evidence. They can, however, be heard if the judge declares by a decree that it would be appropriate to do so.
§2 The following are deemed incapable of being witnesses:1° the parties in the case or those who appear at the trial in the name of the parties; the judge and his assistant; the advocate and those others who in the same case assist or have assisted the parties;2° priests, in respect of everything which has become known to them in sacramental confession, even if the penitent has asked that these things be made known. Moreover, anything that may in any way have been heard by anyone on the occasion of confession, cannot be accepted even as an indication of the truth.
Điều 1551
Bên nào đã đưa một nhân chứng ra tòa, thì có thể khước từ việc thẩm vấn nhân chứng ấy; nhưng đối phương có thể yêu cầu cứ thẩm vấn nhân chứng ấy.
Canon 1551
A party who has introduced a witness may forego the examination of that witness, but the opposing party may ask that the witness nevertheless be examined.
Điều 1552
§1. Khi được yêu cầu lấy chứng cớ qua các nhân chứng, thì phải cho tòa án biết tên và nơi cư trú của họ.
§2. Trong thời hạn do thẩm phán ấn định, phải trình bày những điểm nào muốn yêu cầu để thẩm vấn những nhân chứng; bằng không, lời yêu cầu sẽ được xem như đã bị hủy bỏ.
Canon 1552
§1 When proof by means of witnesses is sought, the names and addresses of the witnesses are to be communicated to the tribunal.
§2 The propositions on which the interrogation of the witnesses is requested, are to be submitted within the time-limit determined by the judge; otherwise, the request is to be deemed abandoned.
Điều 1553
Thẩm phán phải hạn chế đừng để cho có quá nhiều nhân chứng.
Canon 1553
It is for the judge to curb an excessive number of witnesses.
Điều 1554
Trước khi thẩm vấn các nhân chứng, phải thông báo tên của họ cho các bên; nhưng nếu theo sự thẩm định khôn ngoan của mình, thẩm phán thấy điều đó không thể thực hiện được mà không gây khó khăn nghiêm trọng, thì ít nhất phải thông báo tên của các nhân chứng trước khi công bố các lời chứng.
Canon 1554
Before witnesses are examined, their names are to be communicated to the parties. If, in the prudent opinion of the judge, this cannot be done without great difficulty, it is to be done at least before the publication of the evidence.
Điều 1555
Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1550, một bên có thể yêu cầu loại bỏ một nhân chứng, nếu có một lý do chính đáng để loại bỏ, trước khi nhân chứng ấy cung khai.
Canon 1555
Without prejudice to the provisions of can. 1550, a party may request that a witness be excluded, provided a just reason for exclusion is established before the witness is examined.
Điều 1556
Việc triệu tập một nhân chứng phải được thực hiện do sắc lệnh của thẩm phán, sắc lệnh này được thông báo cho nhân chứng cách hợp pháp.
Canon 1556
The summons of a witness is effected by a decree of the judge lawfully notified to the witness.
Điều 1557
Một nhân chứng được triệu tập cách hợp pháp thì phải trình diện hoặc phải cho thẩm phán biết lý do vắng mặt của mình.
Canon 1557
A properly summoned witness is to appear, or to make known to the judge the reason for being absent.
Điều 1558
§1. Những nhân chứng phải được thẩm vấn tại chính trụ sở tòa án, trừ khi thẩm phán định cách khác.
§2. Các Hồng Y, các Thượng Phụ, các Giám Mục và những người được hưởng đặc ân tương tự theo luật quốc gia của họ, phải được thẩm vấn tại nơi do chính họ lựa chọn.
§3. Thẩm phán phải quyết định về nơi chốn để thẩm vấn những người không thể hay khó đến trụ sở tòa án vì xa xôi, vì bệnh tật hay vì một ngăn trở nào khác, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1418 và 1469
§2.
Canon 1558
§1 Witnesses are to be examined at the office of the tribunal unless the judge deems otherwise.
§2 Cardinals, Patriarchs, Bishops, and those who in their own civil law enjoy a similar favour, are to be heard at the place selected by themselves.
§3 Without prejudice to the provisions of can. 1418 and 1469
§2, the judge is to decide where witnesses are to be heard for whom, by reason of distance, illness or other impediment, it is impossible or difficult to come to the office of the tribunal.
Điều 1559
Các bên không được tham dự cuộc chấp cung các nhân chứng, trừ khi thẩm phán thẩm định là phải cho họ tham dự, cách riêng trong các vụ án việc liên quan đến tư ích. Tuy nhiên, những luật sư hay những người đại diện của họ có thể tham dự, trừ khi thẩm phán thẩm định phải tiến hành cách bí mật, vì những hoàn cảnh sự việc hay con người.
Canon 1559
The parties cannot be present at the examination of the witnesses unless, especially when there is question of a private interest, the judge has determined that they are to be admitted. Their advocates or procurators, however, may attend, unless by reason of the circumstances of matter and persons, the judge has determined that the proceedings are to be in secret.
Điều 1560
§1. Các nhân chứng phải được thẩm vấn riêng từng người một.
§2. Nếu các nhân chứng bất đồng ý kiến với nhau hay với một bên về vấn đề quan trọng, thẩm phán có thể cho những người ấy gặp nhau, tức là đối chất với nhau, nhưng phải làm hết sức để tránh những bất hòa và gương xấu.
Canon 1560
§1 The witnesses are to be examined individually and separately.
§2 If in a grave matter the witnesses disagree either among themselves or with one of the parties, the judge may arrange for those who differ to meet or to confront one another, but must, in so far as possible, eliminate discord and scandal.
Điều 1561
Việc chấp cung các nhân chứng được thực hiện do thẩm phán hay do người được thẩm phán ủy nhiệm hoặc do một dự thẩm, và phải có sự hiện diện của công chứng viên; vì thế, trừ khi luật địa phương ấn định cách khác, nếu các bên, hay công tố viên, hay bảo hệ viên, hay những luật sư hiện diện trong cuộc chấp cung có điều gì muốn hỏi nhân chứng thì không được hỏi thẳng nhân chứng, nhưng phải đưa câu hỏi cho thẩm phán hay cho người thay thế thẩm phán, để chính người này hỏi lại nhân chứng.
Canon 1561
The examination of a witness is conducted by the judge, or by his delegate or an auditor, who is to be attended by a notary. Accordingly, unless particular law provides otherwise, if the parties or the promotor of justice or the defender of the bond or the advocates who are present at the hearing have additional questions to put to the witness, they are to propose these not to the witness, but to the judge, or to the one who is taking the judge’s place, so that he or she may put them.
Điều 1562
§1. Thẩm phán phải nhắc nhở, cho nhân chứng biết nghĩa vụ quan trọng phải nói hết mọi sự thật và chỉ nói sự thật mà thôi.
§2. Thẩm phán phải buộc nhân chứng tuyên thệ chiếu theo điều 1532; nhưng nếu nhân chứng từ chối tuyên thệ, thì cũng phải nghe người ấy cung khai, mặc dầu họ không tuyên thệ.
Canon 1562
§1 The judge is to remind the witness of the grave obligation to tell the whole truth and nothing but the truth.
§2 The judge is to administer an oath to the witness in accordance with can. 1532. If, however, a witness refuses to take an oath, he or she is to be heard unsworn.
Điều 1563
Trước tiên, thẩm phán phải kiểm chứng lý lịch của nhân chứng, phải hỏi nhân chứng có liên hệ gì với các bên, và khi đặt ra cho nhân chứng những câu hỏi riêng biệt liên quan đến vụ án, thẩm phán cũng phải hỏi cho biết chính xác nơi chốn và thời gian mà nhân chứng biết được những điều họ quả quyết.
Canon 1563
The judge is first of all to establish the identity of the witness. The relationship which the witness has with the parties is to be probed, and when specific questions concerning the case are asked of the witness enquiry is to be made into the sources of his or her knowledge and the precise time the witness came to know the matters which are asserted.
Điều 1564
Các câu hỏi phải ngắn gọn, hợp với tầm hiểu biết của người được thẩm vấn, không bao hàm một lúc nhiều vấn đề, không quanh co, không xảo quyệt, không gợi ra câu trả lời, hoặc không có tính cách khiêu khích bất cứ ai và phải liên quan đến vụ án đang được xét xử.
Canon 1564
The questions are to be brief, and appropriate to the understanding of the person being examined. They are not to encompass a number of matters at the same time, nor be captious or deceptive. They are not to be leading questions, nor give any form of offence. They are to be relevant to the case in question.
Điều 1565
§1. Những câu hỏi không được thông báo trước cho các nhân chứng.
§2. Tuy nhiên, nếu các sự kiện phải được làm chứng đã được quên đi đến nỗi nếu không được gợi lại trước thì sẽ không được quả quyết chắc chắn được, thẩm phán có thể nói trước cho nhân chứng một vài điểm, nếu nghĩ rằng điều đó không có gì nguy hại.
Canon 1565
§1 The questions are not to be made known in advance to the witnesses.
§2 If, however, the matters about which evidence is to be given are so remote in memory that they cannot be affirmed with certainty unless they are recalled beforehand, the judge may, if he thinks this can safely be done, advise the witness in advance about certain aspects of the matter.
Điều 1566
Các nhân chứng phải cung khai bằng miệng và không được đọc điều đã viết sẵn, trừ khi phải nói đến những việc tính toán và sổ sách; trong trường hợp này, họ có thể tham khảo những điều ghi chú họ đã mang theo.
Canon 1566
The witnesses are to give evidence orally. They are not to read from a script, except where there is a question of calculations or accounts; in this case, they may consult notes which they have brought with them.
Điều 1567
§1. Câu trả lời phải được công chứng viên ghi ngay trên giấy tờ và phải ghi nguyên văn những lời nói của nhân chứng, ít nhất đối với những vấn đề trực tiếp liên quan đến đối tượng của vụ án.
§2. Có thể chấp nhận việc sử dụng máy ghi âm, miễm là sau đó các câu trả lời phải được ghi chép lại trên giấy tờ, và nếu có thể, phải được những người cung khai ký tên vào.
Canon 1567
§1 The replies are to be written down at once by the notary. The record must show the very words of the evidence given, at least in what concerns those things which bear directly on the matter of the trial.
§2 The use of a tape-recorder is allowed, provided the replies are subsequently committed to writing and, if possible, signed by the deponents.
Điều 1568
Công chứng viên phải ghi vào các án từ lời thề đã được đọc, được miễn chuẩn hay bị từ chối, sự hiện diện của các bên và của những đệ tam nhân, các câu hỏi được thêm vào chiếu theo chức vụ, và nói chung, tất cả những gì đáng ghi nhớ đã xảy ra trong cuộc thẩm vấn các nhân chứng.
Canon 1568
The notary is to mention in the acts whether the oath was taken or excused or refused; who were present, parties and others; the questions added ex officio; and in general, everything worthy of record which may have occurred while the witnesses were being examined.
Điều 1569
§1. Thẩm vấn xong, phải đọc cho nhân chứng nghe những lời khai của họ đã được công chứng viên ghi lại trên giấy tờ hay đã được thu qua máy ghi âm, và phải cho nhân chứng được quyền thêm, bỏ, sửa chữa, thay đổi các lời đã cung khai.
§2. Tiếp đến, nhân chứng, thẩm phán và công chứng viên phải ký vào án từ.
Canon 1569
§1 At the conclusion of the examination, the record of the evidence, either as written down by the notary or as played back from the tape-recording, must be communicated to the witness, who is to be given the opportunity of adding to, omitting from, correcting or varying it.
§2 Finally, the witness, the judge and the notary must sign the record.
Điều 1570
Trước khi công bố các án từ hay những lời chứng, các nhân chứng, mặc dầu đã được thẩm vấn rồi, vẫn có thể được mời ra để thẩm vấn lần nữa, do một bên yêu cầu hoặc chiếu theo chức vụ, nếu thẩm phán thấy điều đó là cần thiết hay hữu ích, miễn là không có nguy cơ thông đồng hay hối lộ nào.
Canon 1570
Before the acts or the testimony are published, witnesses, even though already examined, may be called for re-examination, either at the request of a party or ex officio. This may be done if the judge considers it either necessary or useful, provided there is no danger whatever of collusion or of inducement.
Điều 1571
Tùy theo sự ước tính hợp tình hợp lý của thẩm phán, phải bồi thường cho các nhân chứng những phí tổn phải chịu cũng như những lợi tức đã mất vì phải ra tòa làm chứng.
Canon 1571
Witnesses must be refunded both the expenses they incurred and the losses they sustained by reason of their giving evidence, in accordance with the equitable assessment of the judge.
Điều 1572
Trong việc thẩm định các lời chứng, sau khi đã đòi phải có những chứng thư nếu cần, thẩm phán phải cứu xét:1° tư cách và tiếng tăm của nhân chứng;2° nhân chứng có cung khai điều họ biết hay không, nhất là điều do mắt thấy tai nghe, hoặc là theo ý kiến riêng của họ, hoặc do dư luận, hoặc do người khác nói lại;3° nhân chứng có nhất quán, kiên trì và mạch lạc với mình hay không, hoặc là hay thay đổi, hoặc là không chắc chắn, hoặc là do dự;4° điều mà nhân chứng quả quyết có được những nhân chứng khác hoặc những yếu tố chứng minh khác xác nhận hay không.
Canon 1572
In weighing evidence the judge may, if it is necessary, seek testimonial letters, and is to take into account:1° the condition and uprightness of the witness2° whether the knowledge was acquired at first hand, particularly ifit was something seen or heard personally, or whether it was opinion, rumour or hearsay;3° whether the witness is constant and consistent, or varies, is uncertain or vacillating;4° whether there is corroboration of the testimony, and whether it is confirmed or not by other items of evidence.
Điều 1573
Lời khai của một nhân chứng duy nhất không thể đáng tin hoàn toàn, trừ khi người đó là một nhân chứng có tư cách chuyên môn và cung khai những việc mà họ đã thực hiện trong khi thi hành nhiệm vụ, hoặc trừ khi hoàn cảnh sự việc và con người khuyến cáo cách khác.
Canon 1573
The deposition of one witness cannot amount to full proof, unless the witness is a qualified one who gives evidence on matters carried out in an official capacity, or unless the circumstances of persons and things persuade otherwise.
Điều 1574
Phải nhờ đến các giám định viên, mỗi khi luật quy định hoặc mỗi khi thẩm phán cần đến việc nghiên cứu và ý kiến của họ dựa trên những quy luật kỹ thuật hay khoa học, để chứng minh một sự kiện hay để biết thực chất của một sự vật.
Canon 1574
The services of experts are to be used whenever, by a provision of the law or of the judge, their study and opinion, based upon their art or science, are required to establish some fact or to ascertain the true nature of some matter.
Điều 1575
Thẩm phán phải bổ nhiệm các giám định viên, sau khi đã nghe các bên hay do các bên đề nghị, hoặc nếu có dịp, phải thu nạp những bản phúc trình cho các giám định viên khác soạn thảo.
Canon 1575
It is for the judge, after hearing the opinions or suggestions of the parties, to appoint the experts or, if such is the case, to accept reports already made by other experts.
Điều 1576
Các giám định viên cũng bị loại trừ hoặc có thể bị khước từ vì cùng những lý do như các nhân chứng.
Canon 1576
Experts can be excluded or objected to for the same reasons as witnesses.
Điều 1577
§1. Sau khi đã lưu ý đến những luận cứ do các bên đối tụng trình bày, thẩm phán phải ra sắc lệnh ấn định từng điểm mà các giám định viên phải nghiên cứu.
§2. Phải trao cho giám định viên những án từ của vụ án cũng như những tài liệu và những chi tiết khác mà họ có thể cần đến để chu toàn nhiệm vụ cách đứng đắn và trung thực.
§3. Sau khi đã bàn hỏi với giám định viên, thẩm phán phải ấn định thời hạn để hoàn tất việc giám định và đệ nạp bản phúc trình.
Canon 1577
§1 The judge in his decree must define the specific terms of reference to be considered in the expert’s task, taking into account whatever may have been gathered from the litigants.
§2 The expert is to be given the acts of the case, and any documents and other material needed for the proper and faithful discharge of his or her duty.
§3 The judge, after discussion with the expert, is to determine a time for the completion of the examination and the submission of the report.
Điều 1578
§1. Mỗi giám định viên phải làm bản phúc trình riêng, trừ khi thẩm phán ra lệnh làm chung một bản, để từng người ký tên vào; trong trường hợp này, nếu có những ý kiến bất đồng, thì phải ghi chú cẩn thận.
§2. Nhưng giám định viên phải chỉ rõ là do những tài liệu nào hay do những cách thế thích hợp nào mà họ biết được lý lịch các nhân sự, các sự việc hay các nơi chốn; họ phải chỉ rõ là họ đã dùng đường lối nào và phương pháp nào để thi hành sứ mệnh đã được trao phó, và nhất là họ phải cho biết rõ là đã dựa trên những chứng cớ nào để kết luận.
§3. Giám định viên có thể được thẩm phán triệu tập để cung cấp thêm những lời giải thích mà về sau mới thấy là cần thiết.
Canon 1578
§1 Each expert is to complete a report distinct from that of the others, unless the judge orders that one report be drawn up and signed by all of them. In this case, differences of opinion, if there are such, are to be faithfully noted.
§2 Experts must clearly indicate the documents or other appropriate means by which they have verified the identity of persons, places or things. They are also to state the manner and method followed in fulfilling the task assigned to them, and the principal arguments upon which their conclusions are based.
§3 If necessary, the expert may be summoned by the judge to supply further explanations.
Điều 1579
§1. Thẩm phán phải cân nhắc cẩn thận không những các kết luận của các giám định viên, ngay khi chúng ăn khớp với nhau, mà cả các hoàn cảnh khác của vụ án nữa.
§2. Khi đưa ra những lý do quyết định của mình, thẩm phán phải trình bày những lý do đã đưa đến việc chấp nhận hay bác bỏ những kết luận của các giám định viên.
Canon 1579
§1 The judge is to weigh carefully not only the expert’s conclusions, even when they agree, but also all the other circumstances of the case.
§2 When he is giving the reasons for his decision, the judge must state on what grounds he accepts or rejects the conclusions of the experts.
Điều 1580
Phải hoàn trả cho các giám định viên những phí tổn và thù lao do thẩm phán ấn định cách hợp lý và công bình, miễn là vẫn giữ nguyên luật địa phương.
Canon 1580
Experts are to be paid their expenses and honorariums. These are to be determined by the judge in a proper and equitable manner, with due observance of particular law.
Điều 1581
§1. Các bên có thể chọn các giám định viên tư được thẩm phán chấp nhận.
§2. Nếu thẩm phán cho phép, các giám định viên tư này có thể tham khảo các án từ của vụ án, tùy theo mức độ cần thiết, và theo dõi diễn tiến của việc giám định, tuy nhiên, họ luôn luôn có thể nộp bản phúc trình riêng của họ.
Canon 1581
§1 Parties can designate their own experts, to be approved by the judge.
§2 If the judge admits them, these experts can inspect the acts of the case, in so far as required for the discharge of their duty, and can be present when the appointed experts fulfil their role. They can always submit their reports.
Điều 1582
Để thẩm vấn một vụ án, nếu thẩm phán nhận thấy cần phải đi đến một nơi hay cần phải xem xét một vật, thì phải quyết định điều đó bằng một sắc lệnh, trong đó phải vắn tắt kê khai những điều phải làm trong lúc đi đến hiện trường, sau khi đã bàn hỏi với các bên.
Canon 1582
If, in order to decide the case, the judge considers it opportune to visit some place, or inspect some thing, he is to set this out in a decree. After he has heard the parties, the decree is to give a brief description of what is to be made available for this access.
Điều 1583
Phải lập biên bản về việc kiểm định đã được thực hiện.
Canon 1583
After the inspection has been carried out, a document concerning it is to be drawn up.
Điều 1584
Sự suy đoán là sự phỏng định hữu lý về một việc không chắc chắn; sự suy đoán pháp định là sự suy đoán do chính luật ấn định; sự suy đoán nhân định là sự suy đoán do thẩm phán phỏng định.
Canon 1584
A presumption is a probable conjecture about something which is uncertain. Presumptions of law are those stated in the law; human presumptions are those made by a judge.
Điều 1585
Người nào có sự suy đoán pháp định thuận lợi cho mình thì người ấy khỏi phải viện dẫn chứng cớ, nghĩa vụ viện dẫn chứng cớ này thuộc về đối phương.
Canon 1585
A person with a presumption of law in his or her favour is freed from the onus of proof, which then falls on the other party.
Điều 1586
Thẩm phán không được phỏng định những sự suy đoán mà luật pháp không ấn định, nếu không căn cứ vào một sự kiện chắc chắn và nhất định có liên hệ trực tiếp đến điều đang tranh chấp.
Canon 1586
The judge is not to make presumptions which are not stated in the law, other than on the basis of a certain and determinate fact directly connected to the matter in dispute.
Điều 1587
Có vụ án phụ mỗi khi một vấn đề được đặt ra, tuy không được minh nhiên ghi trong đơn khởi tố, sau khi đã có lệnh triệu tập khai mạc vụ án, nhưng vấn đề đó thuộc về vụ án đến nỗi thường thường phải được giải quyết trước vấn đề chính.
Canon 1587
An incidental matter arises when, after the case has begun by the summons, a question is proposed which, even though not expressly raised in the petition which introduced the case, is yet so relevant to the case that it needs to be settled before the principal question.
Điều 1588
Vụ án phụ được trình lên thẩm phán có thẩm quyền xét xử vụ án chính, bằng giấy tờ hay bằng miệng, và phải nêu rõ mối tương quan giữa vụ án này và vụ án chính.
Canon 1588
An incidental matter is proposed before the judge who is competent to decide the principal case. It is raised in writing or orally, indicating the connection between it and the principal case.
Điều 1589
§1. Sau khi đã nhận được lời thỉnh cầu và nghe các bên, thẩm phán phải nhận nhanh chóng quyết định xem xét vấn đề phụ trình lên có nền tảng và có liên hệ đến vụ án chính hay không, hay trái lại, có phải bác bỏ vấn đề phụ ngay từ đầu hay không, hay trái lại, có phải bác bỏ vấn đề phụ ngay từ đầu hay không; và nếu chấp nhận vấn đề phụ đó, thẩm phán phải quyết định xem xét vấn đề ấy có nghiêm trọng đến nỗi phải được giải quyết bằng án trung phán trung phán hay bằng một sắc lệnh không.
§2. Nếu xét thấy không cần phải giải quyết vấn đề phụ trước án chung quyết, thẩm phán phải quyết định là sẽ quan tâm đến vấn đề này khi xét xử vụ án chính.
Canon 1589
§1 When the judge has received the petition and heard the parties, he is to decide with maximum expedition whether the proposed incidental matter has a foundation in, and a connection with, the principal matter, or whether it is to be rejected from the outset. If he admits it he must decide whether it is of such gravity that it needs to be determined by an interlocutory judgement or by a decree.
§2 If, however, he concludes that the incidental matter is not to be decided before the definitive judgement, he is to determine that account be taken of it when the principal matter is decided.
Điều 1590
§1. Nếu một vấn đề phụ phải được giải quyết bằng bản án, thì phải tuân giữ các quy tắc về vụ án hộ sự khẩu biện, trừ khi sự nghiêm trọng của vấn đề buộc thẩm phán phải dự liệu cách khác.
§2. Nếu một vấn đề phụ phải được giải quyết bằng sắc lệnh, tòa án có thể ủy thác vấn đề đó cho dự thẩm hay chánh án.
Canon 1590
§1 If the incidental matter is to be decided by judgement, the norms for a contentious oral process are to be observed unless, because of the gravity of the issue, the judge deems otherwise.
§2 If it is to be decided by decree, the tribunal can entrust the matter to an auditor or to the presiding judge.
Điều 1591
Bao lâu vụ án chính chưa kết thúc, thẩm phán hay tòa án, vì một lý do chính đáng, có thể thu hồi hoặc sửa đổi sắc lệnh hay án trung phán do yêu cầu của một bên, hoặc chiếu theo chức vụ, sau khi đã nghe các bên.
Canon 1591
Before the principal matter is concluded, the judge or the tribunal may for a just reason revoke or alter an interlocutory judgement or decree. This can be done either at the request of a party or ex officio by the judge after he has heard the parties.
Điều 1592
§1. Nếu bị cáo được triệu tập mà không ra hầu tòa và cũng không cáo lỗi cách hợp pháp về sự vắng mặt của mình, hoặc không trả lời chiếu theo quy tắc của điều 1507
§1, thẩm phán phải công bố bị cáo vắng mặt và phải quyết định tiến hành vụ án cho đến khi có bản án chung kết và thi hành bản án ấy, miễn là vẫn giữ những gì luật định.
§2. Trước khi ra sắc lệnh được ấn định ở
§1, thẩm phán phải biết chắc rằng lệnh triệu tập đã được thi hành hợp lệ và đã tới tay bị cáo trong thời gian hữu dụng, kể cả khi phải ra lệnh triệu tập một lần nữa, nếu cần.
Canon 1592
§1 If a respondent is summoned but does not appear, and either does not offer an adequate excuse for absence or has not replied in accordance with can. 1507
§1, the judge is to declare the person absent from the process, and decree that the case is to proceed to the definitive judgement and to its execution, with due observance of the proper norms.
§2 Before issuing the decree mentioned in
§1, the judge must make sure, if necessary by means of another summons, that a lawful summons did reach the respondent within the canonical time.
Điều 1593
§1. Nếu sau đó bị cáo ra hầu tòa hoặc trả lời trước khi xử vụ án, bị cáo có thể đưa ra những kết luận và những chứng cớ, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1600; tuy nhiên, thẩm phán phải liệu sao đừng để vụ án kéo dài quá lâu và vô ích do những thủ đoạn nào đó.
§2. Ngay cả khi không ra hầu tòa hoặc không trả lời trước khi xét xử vụ án, bị cáo vẫn có thể chống lại bản án; nếu bị cáo chứng minh được rằng mình đã bị ngăn trở cách hợp pháp và đã không thể trình diện sớm hơn dù không do lỗi của mình, bị cáo có thể khiếu tố để tiêu hủy bản án.
Canon 1593
§1 If the respondent thereafter appears before the judge, or replies before the trial is concluded, he or she can bring forward conclusions and proofs, without prejudice to the provisions of can. 1600; the judge is to take care, however, that the process is not deliberately prolonged by lengthy and unnecessary delays.
§2 Even if the respondent has neither appeared nor given a reply before the case is decided, he or she can challenge the judgement; if the person can show that there was a just reason for being absent, and that there was no fault involved in not intimating this earlier, a plaint of nullity can be lodged.
Điều 1594
Nếu nguyên cáo không ra hầu tòa vào ngày và giờ ấn định để đối tụng, cũng không đưa ra lý do để cáo lỗi:1° thẩm phán phải triệu tập nguyên cáo một lần nữa;2° nếu nguyên cáo không ra hầu tòa theo lệnh triệu tập mới này, thì nguyên cáo được suy đoán là đã bãi nại, chiếu theo quy tắc của các điều 1524-1525;3° nếu sau đó nguyên cáo muốn can thiệp vào vụ án, thì phải giữ điều 1593.
Canon 1594
If the plaintiff does not appear on the day and at the hour arranged for the joinder of the issue, and does not offer a suitable excuse:1° the judge is to summon the plaintiff again;2° if the plaintiff does not obey the new summons, it is presumed that the case has been abandoned in accordance with cann. 1524-1525;3° if the plaintiff should want to intervene at a subsequent stage in the process, the provisions of can. 1593 are to be observed.
Điều 1595
§1. Nếu nguyên cáo hay bị cáo nào vắng mặt mà không chứng minh được là mình bị ngăn trở chính đáng, thì buộc phải trả các án phí do sự vắng mặt của mình gây ra, và cũng phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, nếu cần.
§2. Nếu cả nguyên cáo lẫn bị cáo đều không ra hầu tòa, họ buộc phải liên đới để trả án phí.
Canon 1595
§1 A party, whether plaintiff or respondent, who is absent from the trial, and who does not establish the existence of a just impediment, is bound to pay the expenses which have been incurred in the case because of this absence, and also, if need be, to indemnify the other party.
§2 If both the plaintiff and the respondent were absent from the trial, they are jointly bound to pay the expenses of the case.
Điều 1596
§1. Người nào quan tâm đến vụ án, thì được phép can thiệp vào vụ án đó trong bất cứ giai đoạn nào, hoặc với tư cách là đương sự bênh vực quyền lợi của riêng mình hoặc với tư cách là phụ trợ để giúp đỡ một đương sự đang tranh tụng.
§2. Tuy nhiên để được chấp nhận, người ấy phải đệ đơn lên thẩm phán trước khi kết thúc vụ xét hỏi, để trình bày vắn tắt quyền can thiệp của mình.
§3. Phải chấp nhận người can thiệp vào vụ án trong hiện trạng của vụ án và phải cho người ấy một thời hạn ngắn và cưỡng định để họ viện dẫn những chứng cớ của họ, nếu vụ án đã đến giai đoạn dẫn chứng.
Canon 1596
§1 Any person with a legitimate interest can be allowed to intervene in a case in any instance of the suit, either as a party defending his or her own right or, in an accessory role, to help one of the litigants.
§2 To be admitted, however, the person must, before the conclusion of the case, produce to the judge a petition which briefly establishes the right to intervene.
§3 A person who intervenes in a case is to be admitted at that stage which the case has reached. If the case has reached the evidence stage, a brief and peremptory time-limit is to be assigned within which to bring forward evidence.
Điều 1597
Sau khi đã nghe các bên, thẩm phán phải triệu tập một đệ tam nhân ra tòa, nếu sự can thiệp của họ là cần thiết.
Canon 1597
A third party whose intervention is seen to be necessary must be called into the case by the judge, after he has consulted the parties. THE CASE AND THE PLEADINGS
Điều 1598
§1. Sau khi đã thu thập được các chứng cớ, thẩm phán phải ra sắc lệnh cho phép các bên và các luật sư của họ được quyền tìm hiểu các án từ mà họ chưa biết, tại văn phòng tòa án, nếu không thì việc xét xử sẽ vô hiệu; hơn nữa, nếu các luật sư yêu cầu, thẩm phán cũng có thể trao cho họ một bản sao các án từ; tuy nhiên, trong những vụ án liên quan đến công ích, để tránh các nguy hiểm rất nghiêm trọng, thẩm phán có thể quyết định không tiết lộ cho ai một án từ nào cả, nhưng phải liệu sao để quyền bào chữa luôn được giữ nguyên vẹn.
§2. Để bổ sung những chứng cớ, các bên có thể trình cho thẩm phán những chứng cớ khác; sau khi đã thu thập được những chứng cớ đó rồi, nếu xét thấy cần, thẩm phán phải ra một sắc lệnh mới được ấn định ở
§1.
Canon 1598
§1 When the evidence has been assembled, the judge must, under pain of nullity, by a decree permit the parties and their advocates to inspect at the tribunal office those acts which are not yet known to them. Indeed, if the advocates so request, a copy of the acts can be given to them. In cases which concern the public good, however, the judge can decide that, in order to avoid very serious dangers, some part or parts of the acts are not to be shown to anyone; he must take care, however, that the right of defence always remains intact.
§2 To complete the evidence, the parties can propose other items of proof to the judge. When these have been assembled the judge can, if he deems it appropriate, again issue a decree as in
§1.
Điều 1599
§1. Sau khi đã hoàn tất mọi điều liên quan đến việc viện dẫn chứng cớ, thì đến giai đoạn kết thúc thẩm cứu.
§2. Giai đoạn kết thúc này xảy ra khi các bên tuyên bố không còn điều gì phải thêm vào hoặc khi đã hết thời gian hữu dụng do thẩm phán ấn định để đề xuất các chứng cớ, hoặc khi thẩm phán tuyên bố vụ án đã được thẩm cứu đủ rồi.
§3. Dù giai đoạn kết thúc xảy ra dưới hình thức nào đi chăng nữa, thẩm phán phải ra môt sắc lệnh tuyên bố kết thúc việc thẩm cứu.
Canon 1599
§1 When everything concerned with the production of evidence has been completed, the conclusion of the case is reached.
§2 This conclusion occurs when the parties declare that they have nothing further to add, or when the canonical time allotted by the judge for the production of evidence has elapsed, or when the judge declares that he considers the case to be sufficiently instructed.
§3 By whichever way the case has come to its conclusion, the judge is to issue a decree declaring that it is concluded.
Điều 1600
§1. Sau khi kết thúc việc thẩm cứu, thẩm phán còn có thể mời cùng những nhân chứng hay những nhân chứng khác hoặc có thể đòi thêm các chứng cớ khác mà trước đây chưa yêu cầu, nhưng chỉ giới hạn:1° trong những vụ án liên quan đến tư ích của các bên mà thôi, nếu tất cả mọi bên đều đồng ý;2° trong những vụ án khác, sau khi đã nghe các bên, và miễn là có một lý do nghiêm trọng, cũng như tránh được mọi nguy cơ gian lận hối lộ;3° trong tất cả mọi vụ án, mỗi khi nhận thấy rằng bản án sẽ bất công vì những lý do được nêu ra ở điều 1645
§2, 10- 30, nếu không nhận thêm chứng cớ mới này.
§2. Tuy nhiên, thẩm phán có thể ra lệnh hay cho phép trình bày một văn bản đã không thể được trình bày trước đó, mà không do lỗi của người liên hệ.
§3. Các chứng cớ mới phải được công bố theo những quy định của điều 1598
§1.
Canon 1600
Only in the following situations can the judge, after the conclusion of the case, still recall earlier witnesses or call new ones, or make provision for other evidence not previously requested:1° in cases in which only the private good of the parties is involved if all the parties agree;2° in other cases, provided that the parties have been consulted, that a grave reason exists, and that all danger of fraud or subornation is removed;3° in all cases, whenever it is probable that, unless new evidence is admitted, the judgement will be unjust for any of the reasons mentioned in can. 1645
§2, nn. 1-3.
§2 The judge can, however, command or permit the presentation of a document which, even without fault of the interested party, could not be presented earlier.
§3 New evidence is to be published according to can. 1598
§1.
Điều 1601
Sau khi kết thúc việc thẩm cứu, thẩm phán phải ấn định một thời gian thích hợp để các bên trình bày các lời bào chữa hay những nhận xét.
Canon 1601
When the case has been concluded, the judge is to determine a suitable period of time for the presentation of pleadings and observations.
Điều 1602
§1. Những lời bào chữa và những nhận xét phải được viết trên giấy tờ, trừ khi với sự đồng ý của các bên, thẩm phán xét rằng chỉ cần một cuộc tranh luận tại tòa là đủ rồi.
§2. Nếu muốn in những lời bào chữa và những tài liệu chính thì buộc phải có phép trước của thẩm phán, miễn là vẫn bảo vệ nghĩa vụ giữ bí mật, nếu có.
§3. Phải tuân theo quy luật của tòa án về mức độ dài ngắn của những lời bào chữa, số lượng bản in và những chi tiết khác như vậy.
Canon 1602
§1 Pleadings and observations are to be in writing unless the judge, with the consent of the parties, considers it sufficient to have a discussion before the tribunal in session.
§2 If the pleadings and the principal documents are to be printed, the prior permission of the judge is required, and the obligation of secrecy, where it exists, is still to be observed.
§3 The directions of the tribunal are to be observed in questions concerning the length of the pleadings, the number of copies and other similar matters.
Điều 1603
§1. Sau khi đã trao đổi với nhau những lời bào chữa và những nhận xét, mỗi bên được quyền trả lời trong thời gian ngắn do thẩm phán ấn định.
§2. Quyền này chỉ được ban cho các bên một lần mà thôi, trừ khi vì một lý do nghiêm trọng, thẩm phán xét thấy phải ban cho một lần thứ hai nữa; nhưng trong trường hợp này, quyền được ban cho bên này cũng coi như được ban cho bên kia nữa.
§3. Công tố viên và bảo hệ viên có quyền đối đáp những câu trả lời của các bên một lần nữa.
Canon 1603
§1 When the pleadings and observations have been exchanged, each party can make reply within a brief period of time determined by the judge.
§2 This right is given to the parties once only, unless for a grave reason the judge considers that the right to a second reply is to be given; if this right is given to one party, it is to be considered as given to the other as well.
§3 The promotor of justice and the defender of the bond have the right to respond to every reply of the parties.
Điều 1604
§1. Tuyệt đối cấm các bên, các luật sư hay cả những đệ tam nhân cung cấp cho thẩm phán những thông tin nằm ngoài các án từ của vụ kiện.
§2. Nếu việc tranh tụng đã được thực hiện trên giấy tờ, thẩm phán có thể ấn định cuộc tranh luận khẩu biện tại tòa, để làm sáng tỏ một vài vấn đề.
Canon 1604
§1 It is absolutely forbidden that any information given to the judge by the parties or the advocates, or by any other persons, be excluded from the acts of the case.
§2 If the pleadings in the case are made in writing, the judge may, in order to clarify any outstanding issues, order that a moderate oral discussion be held before the tribunal in session.
Điều 1605
Một công chứng viên phải tham dự cuộc tranh luận khẩu biện, được nói đến ở những điều 1602
§1 và 1604
§2, để có thể ghi ngay vào biên bản những điều đã được bàn cãi và những kết luận, nếu thẩm phán truyền lệnh, hoặc nếu một bên yêu cầu và nếu thẩm phán đồng ý.
Canon 1605
The notary is to be present at the oral discussion mentioned in cann. 1602
§1 and 1604
§2, so that, if the judge so orders, or the parties so request and the judge consents, the notary can immediately make a written report of what has been discussed and concluded.
Điều 1606
Nếu các bên chểnh mảng không lo chuẩn bị bào chữa cho mình trong thời gian hữu dụng, hoặc phó thác việc bào chữa cho sự hiểu biết và lương tâm của thẩm phán, và nếu thẩm phán nhận thấy là vấn đề đã hoàn toàn sáng tỏ qua các án từ và các chứng cớ, thì thẩm phán có thể tuyên án ngay, sau khi đã buộc công tố viên và bảo hệ viên phải đưa ra những nhận xét, nếu họ tham gia vào vụ kiện.
Canon 1606
If the parties neglect to prepare their pleadings within the time allotted to them, or if they entrust themselves to the knowledge and conscience of the judge, and if at the same time the judge perceives the matter quite clearly from the acts and the proofs, he can pronounce judgement at once. He must, however, seek the observations of the promotor of justice and the defender of the bond if they were engaged in the trial.
Điều 1607
Một vụ án được xét xử theo hình thức tư pháp phải được thẩm phán giải quyết bằng một bản án chung quyết, nếu đó là một vụ án chính, hoặc bằng một bản án trung phán, nếu đó là một vụ án phụ, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1589
§1.
Canon 1607
A principal case which has been dealt with in judicial fashion is decided by the judge by a definitive judgement. An incidental matter is decided by an interlocutory judgement, without prejudice to can. 1589
Điều 1608
§1. Để tuyên bố một bản án, thẩm phán buộc có sự xác tín luân lý về vấn đề phải giải quyết bằng bản án.
§2. Thẩm phán phải tìm thấy sự xác tín luân lý này từ các án từ và các chứng cớ.
§3. Tuy nhiên, thẩm phán phải thẩm định các chứng cớ theo lương tâm của mình, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của luật pháp liên quan đến giá trị của một số chứng cớ.
§4. Thẩm phán nào không thể có sự xác tín luân lý này thì phải tuyên bố rằng quyền của nguyên cáo đã không được thiết lập và phải giải trừ bị cáo, trừ khi đó là một vụ án được luật ưu đãi, trong trường hợp này thẩm phán phải tuyên bố thuận lợi cho vụ án ấy.
Canon 1608
§1 To give any judgement, the judge must have in his mind moral certainty about the matter to be decided in the judgement.
§2 The judge must derive this certainty from the acts of the case and from the proofs.
§3 The judge must conscientiously weigh the evidence, with due regard for the provisions of law about the efficacy of certain evidence.
§4 A judge who cannot arrive at such certainty is to pronounce that the right of the plaintiff is not established and is to find for the respondent except in a case which enjoys the favour of law, when he is to pronounce in its favour.
Điều 1609
§1. Chánh án tòa án hiệp đoàn ấn định ngày và giờ để các thẩm phán hội lại bàn luận và cuộc họp phải diễn ra trong chính trụ sở của tòa án, trừ khi có lý do đặc biệt khuyến cáo cách khác.
§2. Vào ngày đã được ấn định, mỗi thẩm phán phải mang theo những bản kết luận của mình về nội dung vụ kiện, với những lý do về pháp lý cũng như về việc sự kiện đưa đến những kết luận đó; những bản kết luận này phải được đính kèm vào những án từ của vụ án, và phải được giữ bí mật.
§3. Sau khi đã kêu cầu Danh Chúa, mỗi thẩm phán phải lần lượt trình bày những bản kết luận của mình theo thứ tự uu tiên, tuy luôn luôn phải bắt đầu từ báo cáo viên hay phúc trình viên, tiếp đến, sẽ có một cuộc tranh luận dưới sự hướng dẫn của vị chánh án, nhất là để xác minh những điều phải được ấn định trong phần chủ văn của bản án.
§4. Tuy nhiên, trong cuộc tranh luận này, mỗi người có quyền rút lại kết luận đầu tiên của mình, nhưng thẩm phán nào không muốn theo ý kiến của những người khác, thì có thể yêu cầu chuyển những kết luận mình lên tòa án cấp cao hơn, trong trường hợp kháng cáo.
§5. Nếu trong buổi tranh luận đầu tiên, các thẩm phán không muốn hay không thể tuyên án, thì việc quyết định có thể được dời lại một buổi họp khác, nhưng không quá một tuần, nếu không phải bổ túc việc thẩm vấn vụ án chiếu theo quy tắc của điều 1600.
Canon 1609
§1 The presiding judge of a collegiate tribunal decides the day and time when it is to meet for discussion. Unless a special reason requires otherwise, the meeting is to be at the tribunal office.
§2 On the day appointed for the meeting, the individual judges are to bring their written conclusions on the merits of the case, with the reasons in law and in fact for reaching their conclusions. These conclusions are to be added to the acts of the case and to be kept in secrecy.
§3 Having invoked the divine Name, they are to offer their conclusions in order, beginning always with the ‘ponens’ or ‘relator’ in the case, and then in order of precedence. Under the chairmanship of the presiding judge, they are to hold their discussion principally with a view to establishing what is to be stated in the dispositive part of the judgement.
§4 In the discussion, each one is permitted to depart from an original conclusion. A judge who does not wish to accede to the decision of the others can demand that, if there is an appeal, his or her conclusions be forwarded to the higher tribunal.
§5 If the judges do not wish, or are unable, to reach a decision in the first discussion, they can defer their decision to another meeting, but not beyond one week, unless the instruction of the case has to be completed in accordance with can. 1600.
Điều 1610
§1. Nếu là thẩm phán duy nhất, thẩm phán phải tự soạn thảo bản án.
§2. Trong một tòa án hiệp đoàn, báo cáo viên hay phúc trình viên có bổn phận soạn thảo bản án, dựa vào những lý do được mỗi thẩm phán đưa ra trong cuộc tranh luận, trừ khi đa số thẩm phán đã ấn định trước những lý do phải được viện dẫn; sau đó, bản án phải được chấp thuận của mỗi thẩm phán.
§3. Bản án phải được ban hành trong một thời hạn không quá một tháng tính từ ngày vụ án đã được xét xử, trừ khi trong một tòa án hiệp đoàn các thẩm phán đã ấn định một thời hạn dài hơn vì một lý do nghiêm trọng.
Canon 1610
§1 If there is a sole judge, he will draw up the judgement.
§2 In a collegiate tribunal, the ‘ponens’ or ‘relator’ is to draw up the judgement, using as reasons those tendered by the individual judges in their discussion, unless the reasons to be preferred have been defined by a majority of the judges. The judgement must then be submitted to the individual judges for their approval.
§3 The judgement is to be issued not later than one month from the day on which the case was decided, unless in a collegiate tribunal the judges have for grave reasons stipulated a longer time.
Điều 1611
Bản án phải:1° phán xử cuộc tranh luận đã được bàn cải trước tòa bằng cách đưa ra một lời phúc đáp thích đáng cho từng nghi vấn;2° xác định những nghĩa vụ của các bên phát xuất từ việc xử án và cách thức họ phải chu toàn các nghĩa vụ ấy;3° trình bày những lý lẽ hay những lý do về pháp lý cũng như về sự kiện mà chủ văn bản án dựa vào;4° ấn định những án phí.
Canon 1611
The judgement must:1° define the controversy raised before the tribunal, giving appropriate answers to the individual questions;2° determine the obligations of the parties arising from the trial and the manner in which these are to be fulfilled3° set out the reasons or motives, both in law and in fact, upon which the dispositive part of the judgement is based;4° apportion the expenses of the suit.
Điều 1612
§1. Sau khi kêu cầu Danh Chúa, bản án phải lần lượt ghi rõ ai là thẩm phán hoặc tòa án là tòa nào; phải ghi rõ ràng danh tính và nơi cư trú của nguyên cáo, của bị cáo, của người đại dịên, và ai là công tố viên, ai là bảo hệ viên, nếu họ tham gia vào vụ án.
§2. Sau đó phải trình bày vắn tắt sự kiện cùng với những kết luận của các bên và công thức của những nghi vấn.
§3. Tiếp đến là phần chủ văn của bản án, sau khi đã đưa ra những lý lẽ mà chủ văn bản án dựa vào.
§4. Sau cùng, phải ghi rõ ngày và nơi đã ban hành bản án, và phải có chữ ký của thẩm phán hoặc của tất cả các thẩm phán, nếu là tòa án hiệp đoàn, và của công chứng viên.
Canon 1612
§1 The judgement, after the invocation of the divine Name must state in order the judge or tribunal, and the plaintiff, respondent and procurator, with names and domiciles duly indicated. It is also to name the promotor of justice and the defender of the bond if they were engaged in the trial.
§2 It must then briefly set out the alleged facts, with the conclusions of the parties and the formulation of the doubt.
§3 Then follows the dispositive part of the judgement, prefaced by the reasons which support it.
§4 It ends with the date and the place in which it was given, and with the signature of the judge or, in the case of a collegiate tribunal, of all the judges, and of the notary.
Điều 1613
Những quy luật trên đây liên quan đến bản án chung quyết cũng phải áp dụng cho bản án trung phán.
Canon 1613
The rules set out above for a definitive judgement are to be adapted also to interlocutory judgements.
Điều 1614
Bản án phải được công bố sớm hết sức, và phải chỉ rõ những cách thức có thể dùng để kháng án; trước khi được công bố, bản án không có hiệu lực nào cả, ngay cả khi phần chủ văn của bản án đã được thẩm phán cho phép thông tri cho các bên.
Canon 1614
A judgement is to be published as soon as possible, with an indication of the ways in which it can be challenged. Before publication it has no effect, even if the dispositive part may, with the permission of the judge, have been notified to the parties.
Điều 1615
Việc công bố hay thông báo bản án có thể được thực hiện bằng cách trao một bản sao cho các bên, hoặc cho những người đại diện của họ, hoặc bằng cách gửi cho họ bản sao ấy chiếu theo quy tắc của điều 1509.
Canon 1615
The publication or notification of the judgement can be effected by giving a copy of the judgement to the parties or to their procurators, or by sending them a copy of it in accordance with can. 1509.
Điều 1616
§1. Nếu trong văn bản của bản án có sự lầm lẫn về số liệu hay lầm lẫn về chất liệu trong khi sao lại phần chủ văn, hoặc phần trình bày các sự kiện, hoặc những lời yêu cầu của các bên, hoặc nếu đã bỏ sót những yếu tố mà điều 1612
§4 buộc phải có, thì chính tòa án đã ban hành bản án đó phải sửa chữa hay bổ sung, theo lời yêu cầu của một bên, hoặc chiếu theo chức vụ, nhưng luôn luôn phải hỏi ý kiến các bên và phải đính kèm một sắc lệnh vào cuối bản án.
§2. Nếu có một bên phản đối, vấn đề phụ phải được giải quyết bằng sắc lệnh.
Canon 1616
§1 A judgement must be corrected or completed by the tribunal which gave it if, in the text of a judgement, there is an error in calculations, or a material error in the transcription of either the dispositive part or the presentation of the facts or the pleadings of the parties, or if any of the items required by can. 1612
§4 are omitted. This is to be done either at the request of the parties or ex officio, but always after having consulted the parties and by a decree appended to the foot of the judgement.
§2 If one party is opposed, an incidental question is to be decided by a decree.
Điều 1617
Ngoài bản án ra, những lời tuyên bố khác của thẩm phán là những sắc lệnh, mà nếu chúng không có tính cách thuần túy hành chính, thì chúng không có hiệu lực, trừ khi chúng trình bày các lý do ít là cách sơ lược, hoặc trừ khi chúng quy chiếu về các lý do đã được trình bày trong một án từ khác.
Canon 1617
Other pronouncements of a judge apart from the judgement, are decrees. If they are more than mere directions about procedure, they have no effect unless they give at least a summary of their reasons or refer to motives expressed in another act.
Điều 1618
Một bản án trung phán hay một sắc lệnh có hiệu lực như bản án chung quyết, nếu nó ngăn cản việc xét xử hay kết thúc chính việc xét xử hoặc một cấp bậc nào đó của việc xét xử, ít là đối với một bên trong vụ án.
Canon 1618
An interlocutory judgement or a decree has the force of a definitive judgement if, in respect of at least one of the parties, it prevents the trial, or brings to an end the trial itself or any instance of it.
Điều 1619
Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1622 và 1623, tính vô hiệu nào của các án từ do luật thiết định ấn định, mặc dù bên kháng cáo biết mà không trình cho thẩm phán trước khi tuyên án, thì được chính bản án sửa chữa, mỗi khi vụ án liên quan đến lợi ích tư nhân.
Canon 1619
Without prejudice to cann. 1622 and 1623, whenever a case concerns the good of private individuals, acts which are null with a nullity established by positive law are validated by the judgement itself, if the nullity was known to the party making the plaint and was not raised with the judge before the judgement.
Điều 1620
Không thể sửa chữa được một bản án bị vô hiệu nếu:1° bản án được ban hành do một thẩm phán tuyệt đối vô thẩm quyền;2° bản án được ban hành do một người không có quyền xét xử trong tòa án đã giải quyết vụ án;3° thẩm phán đã ban hành bản án do tác dụng của bạo lực hay do sợ hãy nghiêm trọng;4° việc xử án đã được tiến hành mà không có đơn thỉnh nguyện tư pháp, như đã nói ở điều 1501, hoặc không chống lại một bị cáo nào hết;5° bản án được ban hành giữa các bên mà ít là một bên không có tư cách ra hầu tòa;6° người nào đó đã hành động nhân danh một người khác mà không được ủy quyền hợp pháp;7° quyền biện hộ của bên này hoặc của bên kia đã bị từ chối;8° sự tranh tụng đã không được phân xử, dù chỉ là một phần.
Canon 1620
A judgement is null with a nullity which cannot be remedied,1° it was given by a judge who was absolutely non-competent;2° it was given by a person who has no power to judge in the tribunal in which the case was decided;3° the judge was compelled by force or grave fear to deliver judgement;4° the trial took place without the judicial plea mentioned in can. 1501, or was not brought against some party as respondent;5° it was given between parties of whom at least one has no right to stand before the court;6° someone acted in another’s name without a lawful mandate;7° the right of defence was denied to one or other party;8° the controversy has not been even partially decided.
Điều 1621
Tố quyền tiêu hủy nói ở điều 1620 có thể được nêu lên theo cách khước biện, không giới hạn thời gian; còn theo cách khởi tố trước mặt thẩm phán đã tuyên án, thì trong vòng mười năm kể từ ngày công bố bản án.
Canon 1621
In respect of the nullity mentioned in can. 1620, a plaint of nullity can be made in perpetuity by means of an exception, or within ten years of the date of publication of the judgement by means of an action before the judge who delivered the judgement.
Điều 1622
Có thể sửa chữa được một bản án bị vô hiệu nếu:1° bản án được ban hành do một số không hợp lệ của các thẩm phán, trái với những quy định của điều 1425
§1;2° bản án không diện dẫn các lý lẽ hay lý do quyết định;3° bản án thiếu những chữ ký mà luật đòi phải có;4° bản án không ghi rõ ngày, tháng, năm và nơi ban hành;5° bản án dựa trên một án từ tư pháp vô hiệu, và sự vô hiệu đó không được sửa chữa chiếu theo quy tắc của điều 1619;6° bản án được ban hành chống lại một đương sự vắng mặt cách hợp pháp, chiếu theo điều 1593
§2.
Canon 1622
A judgement is null with a nullity which is simply remediable, if:1° contrary to the requirements of can. 1425
§1, it was not given by the lawful number of judges;2° it does not contain the motives or reasons for the decision;3° it lacks the signatures prescribed by the law;4° it does not contain an indication of the year, month, day and place it was given;5° it is founded on a judicial act which is null and whose nullity has not been remedied in accordance with can. 1619;6° it was given against a party who, in accordance with can. 1593
§2, was lawfully absent.
Điều 1623
Tố quyền tiêu hủy trong những trường hợp nói ở điều 1622 có thể được nêu lên trong vòng ba tháng kể từ lúc biết bản án đã được công bố.
Canon 1623
In the cases mentioned in can. 1622, a plaint of nullity can be proposed within three months of notification of the publication of the judgement.
Điều 1624
Chính thẩm phán đã ban hành bản án phải giải quyết tố quyền tiêu hủy; nếu đương sự sợ rằng vị thẩm phán đã ban hành bản án bị tố quyền tiêu hủy chống đối sẽ có thiên kiến và vì vậy cho rằng vị này đáng nghi ngờ, thì có thể yêu cầu một vị thẩm phán khác hay thế chiếu theo quy tắc của điều 1450.
Canon 1624
The judge who gave the judgement is to consider the plaint of its nullity. If the party fears that the judge who gave the judgement is biased, and consequently considers him suspect, he or she can demand that another judge take his place in accordance with can. 1450.
Điều 1625
Tố quyền tiêu hủy có thể được đệ nộp cùng lúc với kháng cáo, trong thời hạn đã được ấn định cho việc kháng cáo.
Canon 1625
Within the time limit established for appeal, a plaint of nullity can be proposed together with the appeal.
Điều 1626
§1. tố quyền tiêu hủy được nêu lên không những do các bên cảm thấy mình bị thiệt hại, mà còn do cả công tố viên hoặc bảo hệ viên nữa, mỗi khi họ có quyền can thiệp.
§2. Chính thẩm phán, chiếu theo chức vụ, có thể thu hồi hay sửa chữa một bản án vô hiệu mình đã ban hành, trong những thời hạn được ấn định ở điều 1623, trừ khi trong thời hạn ấy kháng cáo đã được đệ nộp chung với tố quyền tiêu hủy, hoặc sự vô hiệu đã được sửa chữa do mãn thời hạn được nêu ra ở điều 1623.
Canon 1626
§1 A plaint of nullity can be made not only by parties who regard themselves as injured, but also by the promotor of justice and the defender of the bond, whenever they have a right to intervene.
§2 Within the time-limit established in can. 1623, the judge himself can retract or correct an invalid judgement he has given, unless in the meantime an appeal joined to a plaint of nullity has been lodged, or the nullity has been remedied by the expiry of the time-limit mentioned in can. 1623.
Điều 1627
Các vụ án về tố quyền tiêu hủy có thể được xét xử theo những quy tắc của vụ án hộ sự khẩu biện.
Canon 1627
Cases concerning a plaint of nullity can be dealt with in accordance with the norms for an oral contentious process.
Điều 1628
Bên nào cảm thấy mình bị thiệt hại do một bản án, cũng như công tố viên và bảo hệ viên trong những vụ án họ phải có mặt, đều có quyền kháng cáo lên thẩm phán thượng cấp để chống lại bản án, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1629.
Canon 1628
Without prejudice to the provisions of can. 1629, a party who considers him or herself to be injured by a judgement has a right to appeal from the judgement to a higher judge; in cases in which their presence is required, the promotor of justice and the defender of the bond have likewise the right to appeal.
Điều 1629
Không được kháng cáo chống lại;1° bản án do chính Đức Giáo Hoàng hay do Tối Cao Pháp Viện tông tòa ban hành;2° bản án bị vô hiệu, trừ khi việc kháng cáo được nêu lên chung với tố quyền tiêu hủy chiếu theo quy tắc của điều 1625;3° bản án trở thành vấn đề quyết tụng;4° sắc lệnh của thẩm phán hay bản án trung phán không có hiệu lực của bản án chung quyết, trừ khi đơn kháng cáo này được nộp chung với đơn kháng cáo chống lại bản án chung quyết;5° bản án hay sắc lệnh trong một vụ án mà luật đã ấn định phải được xét xử trong thời hạn nhanh hết sức có thể.
Canon 1629
No appeal is possible against:1° a judgement of the Supreme Pontiff himself, or a judgement of the Apostolic Signatura;2° a judgement which is null, unless the appeal is lodged together with a plaint of nullity, in accordance with can. 1625;3° a judgement which has become an adjudged matter4° a decree of the judge or an interlocutory judgement, which does not have the force of a definitive judgement, unless the appeal is lodged together with an appeal against the definitive judgement;5° a judgement or a decree in a case in which the law requires that the matter be settled with maximum expedition.
Điều 1630
§1. Đơn kháng cáo phải được nộp cho thẩm phán đã ban hành bản án trong thời hạn cưỡng định là mười lăm ngày hữu dụng, kể từ lúc biết bản án được công bố.
§2. Nếu việc kháng cáo được trình miệng, công chứng viên phải ghi lại việc kháng cáo ấy trên giấy tờ trước mặt chính người kháng cáo.
Canon 1630
§1 The appeal must be lodged with the judge who delivered the judgement, within a peremptory time-limit of fifteen canonical days from notification of the publication of the judgement.
§2 If it is made orally, the notary is to draw up the appeal in writing in the presence of the appellant.
Điều 1631
Nếu xảy ra một vấn đề về quyền kháng cáo, tòa kháng cáo phải khẩn cấp cứu xét vấn đề đó theo những quy tắc của vụ án hộ sự khẩu biện.
Canon 1631
If a question arises about the right of appeal, the appeal tribunal is to determine it with maximum expedition, in accordance with the norms for an oral contentious process.
Điều 1632
§1. Nếu đơn kháng cáo không nêu rõ tòa án nào là nơi nhận đơn, thì được suy đoán là kháng cáo ở tòa án được nói đến ở các điều 1438 và 1439.
§2. Nếu bên kia kháng cáo ở một tòa kháng cáo khác, thì tòa án nào cao cấp hơn sẽ xét xử vụ án, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1415.
Canon 1632
§1 If there is no indication of the tribunal to which the appeal is directed, it is presumed to be made of the tribunal mentioned in cann. 1438 and 1439.
§2 If the other party has resorted to some other appeal tribunal, the tribunal which is of the higher grade is to determine the case, without prejudice to can. 1415.
Điều 1633
Việc kháng cáo phải được tiến hành trước mặt thẩm phán tòa kháng cáo trong thời hạn một tháng, kể từ khi nộp đơn kháng cáo, trừ khi thẩm phán ban hành bản án đã ấn định một thời gian dài hơn cho đơn sự để tiến hành việc kháng cáo.
Canon 1633
The appeal is to be pursued before the appeal judge within one month of its being forwarded, unless the originating judge allows the party a longer time to pursue it.
Điều 1634
§1. Để tiến hành việc kháng cáo, điều kiện cần và đủ là đương sự phải nại tới thẩm phán thượng cấp để xin duyệt lại bản án đã bị chống đối, kèm theo một bản sao của bản án này và nêu rõ những lý do kháng cáo.
§2. Nếu đương sự không thể nhận được bản sao của bản án bị chống đối từ tòa án ban hành bản án trong thời gian hữu dụng, thì khoảng thời gian đó không được tính trong hạn kỳ, và phải báo cho thẩm phán tòa kháng cáo biết ngăn trở ấy, vị này sẽ ra lệnh buộc thẩm phán đã ban hành bản án phải chu toàn nhiệm vụ của mình cách nhanh nhất.
§3. Trong khi đó, thẩm phán ban hành bản án phải chuyển lên thẩm phán tòa kháng cáo những án từ chiếu theo quy tắc của điều 1474.
Canon 1634
§1 To pursue the appeal, it is required and is sufficient that the party request the assistance of the higher judge to amend the judgement which is challenged, enclosing a copy of the judgement and indicating the reasons for the appeal.
§2 If the party is unable to obtain a copy of the appealed judgement from the originating tribunal within the canonical time-limit, this timelimit is in the meantime suspended. The problem is to be made known to the appeal judge, who is to oblige the originating judge by precept to fulfil his duty as soon as possible.
§3 In the meantime, the originating judge must forward the acts to the appeal court in accordance with can. 1474.
Điều 1635
Khi đã mãn hạn hạn kỳ hữu dụng để kháng cáo, hoặc trước thẩm phán ban hành bản án, hoặc trước thẩm phán tòa kháng cáo, thì việc kháng cáo được coi như đã bị hủy bỏ.
Canon 1635
The appeal is considered to be abandoned if the time-limits for an appeal before either the originating judge or the appeal judge have expired without action being taken.
Điều 1636
§1. Người kháng cáo có thể từ bỏ việc kháng cáo, với những hiệu lực được nói đến ở điều 1525.
§2. Nếu bảo hệ viên hay công tố viên đề xuất việc kháng cáo, thì bảo hệ viên hay công tố viên của tòa kháng cáo có thể hủy bỏ việc kháng cáo ấy, trừ khi luật đã dự liệu cách khác.
Canon 1636
§1 The appellant can renounce the appeal, with the effects mentioned in can. 1525.
§2 Unless the law provides otherwise, an appeal made by the defender of the bond or the promotor of justice, can be renounced by the defender of the bond or the promotor of justice of the appeal tribunal.
Điều 1637
§1. Việc kháng cáo do nguyên cáo thực hiện cũng giúp ích cho bị cáo, và ngược lại.
§2. Nếu có nhiều bị cáo hay nhiều nguyên cáo, và nếu bản án chỉ bị một người trong họ chống lại hoặc chống lại một người trong họ, thì việc kháng án được coi là do tất cả mọi người thực hiện và chống lại tất cả mọi người, mỗi khi vấn đề được thỉnh cầu có tính cách bất khả phân chia hoặc mỗi khi nghĩa vụ có tính cách liên đới.
§3. Nếu một bên kháng cáo về một điểm của bản án, thì cho dù thời hạn kỳ kháng cáo đã mãn, đối phương vẫn có thể kháng cáo phụ về những điểm khác; trong thời hạn cưỡng định là mười lăm ngày, tính từ ngày nhận được thông báo của việc kháng cáo chính.
§4. Trừ khi đã rõ cách khác, việc kháng cáo được suy đoán là chống lại tất cả mọi điểm của bản án.
Canon 1637
§1 An appeal made by the plaintiff benefits the respondent, and vice versa.
§2 If there are several respondents or plaintiffs, and the judgement is challenged by only one of them, or is made against only one of them, the challenge is considered to be made by all and against all whenever the thing requested is an individual one or the obligation is a joint one.
§3 If one party challenges a judgement in regard to one ground, the other party can appeal incidentally on the other grounds, even if the canonical time-limit for the appeal has expired. This incidental case is to be appealed within a peremptory time-limit of fifteen days from the day of notification of the principal appeal.
§4 Unless the contrary is clear, an appeal is presumed to be against all the grounds of the judgement.
Điều 1638
Việc kháng cáo đình hoãn việc thi hành bản án.
Canon 1638
An appeal suspends the execution of the judgement.
Điều 1639
§1. Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1638, không thể chấp nhận một lý do thỉnh cầu mới ở cấp kháng cáo, ngay cả bằng cách dồn chung cho tiện, vì thế, việc đối tụng chỉ nhằm để biết phải chứng thực bản án đầu tiên hay phải sửa đổi, hoặc là tất cả, hoặc là một phần bản án ấy.
§2. Tuy nhiên, những chứng cớ mới chỉ được chấp nhận chiếu theo quy tắc của điều 1600.
Canon 1639
§1 Without prejudice to the provision of can. 1683*, a new ground cannot be introduced at the appeal grade, not even by way of the useful accumulation of grounds. So the joinder of the issue can concern itself only with the confirmation or the reform of the first judgement, either in part or in whole. [*Following Mitis Iudex Dominus Iesus the relevant provision is now 1680
§4]
§2 New evidence is admitted only in accordance with can. 1600.
Điều 1640
Cách thức kiện tụng ở tòa kháng cáo cũng giống như ở tòa cấp một, với những thích nghi xứng hợp; tuy nhiên, nếu không phải bổ sung thêm các chứng cớ, thì bước sang việc tranh luận vụ án và tuyên án, ngay sau khi đã đối tụng chiếu theo quy tắc của điều 1513
§1 và điều 1639
§1.
Canon 1640
With the appropriate adjustments, the procedure at the appeal grade is to be the same as in first instance. Unless the evidence is to be supplemented, however, once the issue has been joined in accordance with can. 1513
§1 and can. 1639
§1, the judges are to proceed immediately to the discussion of the case and the judgement.
Điều 1641
Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1643, một vấn đề trở thành quyết tụng:1° nếu giữa cùng các bên như nhau đã có hai bản án giống hệt nhau, về cùng một điều thỉnh nguyện và bởi cùng một lý do;2° nếu đơn kháng cáo chống lại bản án không được đệ nộp trong thời gian hữu dụng;3° nếu đơn kiện đã thất hiệu ở cấp kháng cáo hay đã được bãi nại;4° nếu đã ban hành một bản án chung quyết không được phép kháng cáo chiếu theo quy tắc của điều 1629.
Canon 1641
Without prejudice to can. 1643, an adjudged matter occurs when:1° there are two conforming judgements between the same parties about the same matter and on the same grounds;2° no appeal was made against the judgement within the canonical time-limit;3° the trial has been abated or renounced in the appeal grade;4° a definitive judgement has been given from which, in accordance with can. 1629, there is no appeal.
Điều 1642
§1. Vấn đề quyết tụng được hưởng uy lực của pháp luật và không thể bị chống lại cách trực tiếp, trừ khi chiếu theo quy tắc của điều 1645
§1.
§2. Vấn đề quyết tụng có hiệu lực pháp lý giữa các bên và phát sinh tố quyền của việc đã xử cũng như khước biện của vấn đề quyết tụng, mà thẩm phán có thể tuyên bố chiếu theo chức vụ để ngăn ngừa một cuộc khởi tố mới của cùng một vụ án.
Canon 1642
§1 An adjudged matter has the force of law and cannot be challenged directly, except in accordance with can. 1645
§1.
§2 It has the effect of law between the parties; it gives the right to an action arising from the judgement and to an exception of an adjudged matter; to prevent a new introduction of the same case, the judge can even declare such an exception ex officio.
Điều 1643
Các vụ án liên quan đến tình trạng nhân thân, kể cả những vụ án ly thân của vợ chồng, không bao giờ trở thành vấn đề quyết tụng.
Canon 1643
Cases concerning the status of persons never become an adjudged matter, not excepting cases which concern the separation of spouses.
Điều 1644
§1. Nếu có hai bản án giống nhau đã được ban hành trong một vụ án liên quan đến tình trạng nhân thân thì có thể được kháng lên tòa án kháng cáo trong bất cứ thời gian nào, bằng cách trưng ra những chứng cớ hay hay những lý do mới và quan trọng, trong thời hạn cưỡng định là ba mươi ngày, kể từ ngày nộp đơn kháng án. Tuy nhiên, trong vòng một tháng kể từ khi trưng ra những chứng cớ và những lý do mới, tòa kháng cáo phải ra sắc lệnh quyết định chấp nhận hay bác bỏ việc thẩm cứu lại vụ án.
§2. Việc thượng tố lên tòa án cấp cao hơn để xin xử lại vụ án không đình hoãn việc thi hành bản án, khi trừ luật đã dự liệu cách khác hoặc khi tòa kháng cáo ra lệnh đình hoãn chiếu theo quy tắc của điều 1650
§3.
Canon 1644
§1 If two conforming sentences have been given in cases concerning the status of persons, recourse to a tribunal of appeal can be made at any time, to be supported by new and serious evidence or arguments which are to be submitted within a peremptory time-limit of thirty days from the time the challenge was made. Within one month of receiving the new evidence and arguments, the appeal tribunal must declare by a decree whether or not a new presentation of the case is to be admitted.
§2 Recourse to a higher tribunal to obtain a new presentation of the case does not suspend the execution of the judgement, unless the law provides otherwise or the appeal tribunal orders a suspension in accordance with can. 1650
§3.
Điều 1645
§1. việc phục hồi nguyên trạng được chấp nhận chống lại một bản án đã trở thành vấn đề quyết tụng, miễn là nhận thấy bản án ấy bất công tỏ tường.
§2. Chỉ được coi là bất công tỏ tường:1° nếu bản án dựa trên những chứng cớ mà về sau mới biết là sai, đến nỗi nếu không có những chứng cớ ấy thì phần chủ văn của bản án không đứng vững được;2° nếu sau đó mới khám phá ra những tài liệu chứng minh chắc chắn rằng có những sự kiện mới đòi hỏi một quyết định ngược lại;3° nếu bản án ban hành do sự man trá của một bên đã gây thiệt hại cho bên kia;4° nếu rõ ràng đã bỏ qua một quy định của luật không có tính thuần túy thủ tục. 50 nếu bản án đi ngược lại một quyết định trước đó đã trở thành vấn đề quyết tụng.
Canon 1645
§1 Against a judgement which has become an adjudged matter there can be a total reinstatement, provided it is clearly established that the judgement was unjust.
§2 Injustice is not, however, considered clearly established unless:1° the judgement is so based on evidence which is subsequently shown to be false, that without this evidence the dispositive part of the judgement could not be sustained;2° documents are subsequently discovered by which new facts demanding a contrary decision are undoubtedly proven;3° the judgement was given through the deceit of one party to the harm of the other;4° a provision of a law which was not merely procedural was evidently neglected;5° the judgement runs counter to a preceding decision which has become an adjudged matter.
Điều 1646
§1. Việc phục hồi nguyên trạng vì những lý do nói ở điều 1645
§2, 10-30, phải được thỉnh cầu nơi thẩm phán đã ban hành bản án, trong vòng ba tháng, kể từ ngày biết được những lý do đó.
§2. Việc phục hồi nguyên trạng vì những lý do nói ở điều 1645
§2, 40-50, phải được thỉnh cầu nơi tòa án kháng cáo trong vòng ba tháng, kể từ ngày biết bản án đã được công bố; còn trong trường hợp được nói đến ở điều 1645
§2, 50, nếu quyết định trước được biết trễ, thì thời hạn bắt đầu từ lúc biết được quyết định ấy.
§3. Bao lâu đương sự bị thiệt hại còn là vị thành niên, thì bấy lâu sẽ không được tính các thời hạn nói trên.
Canon 1646
§1 Total reinstatement based on the reasons mentioned in can. 1645
§2, nn. 1-3, is to be requested from the judge who delivered the judgement within three months from the day on which these reasons became known.
§2 Total reinstatement based on the reasons mentioned in can. 1645
§2, nn. 4 and 5, is to be requested from the appeal tribunal within three months of notification of the publication of the judgement. In the case mentioned in can. 1645
§2, n. 5, if the preceding decision is not known until later, the time-limit begins at the time the knowledge was obtained.
§3 The time-limits mentioned above do not apply for as long as the aggrieved party is a minor.
Điều 1647
§1. Đơn thỉnh cầu việc phục hồi nguyên trạng đình hoãn việc thi hành bản án, nếu việc thi hành này chưa bắt đầu.
§2. Tuy nhiên, trong trường hợp có những dấu hiệu hữu lý cho phép nghi ngờ rằng đơn thỉnh cầu được nộp nhằm mục đích trì hoãn việc thi hành bản án, thì thẩm phán có thể quyết định phải thi hành bản án, nhưng phải ấn định một bảo chứng thích hợp cho người thỉnh nguyện việc phục hồi nguyên trạng là họ sẽ được bồi thường, nếu việc này được chấp nhận.
Canon 1647
§1 A plea for total reinstatement suspends the execution of a judgements which has not yet begun.
§2 If there are probable indications leading the judge to suspect that the plea was made to cause delays in execution, he may decide that the judgement be executed. The person seeking total reinstatement is, however, to be given suitable guarantees that, if it is granted, he or she will be indemnified.
Điều 1648
Một khi đã chấp nhận việc phục hồi nguyên trạng, thẩm phán phải công bố lẽ phải trái của vụ án.
Canon 1648
Where total reinstatement is granted, the judge must pronounce judgement of the merits of the case.
Điều 1649
§1. việc điều hành tòa án thuộc về Giám Mục, ngài phải ấn định các quy tắc liên quan đến:1° việc buộc các bên phải thanh toán hoặc bồi hoàn các án phí;2° thù lao cho các người đại diện, các luật sư, các giám định viên và các thông dịch viên, cũng như việc bồi thường phí tổn cho các nhân chứng;3° việc cấp bảo trợ miễn phí hay giảm án phí;4° việc buộc người không những thất kiện mà còn kiện tụng bừa bãi phải đền bù những thiệt hại. 50 tiền ký quỹ hay tiền bảo chứng phải nộp để trả các án phí và đền bù thiệt hại.
§2. Không được kháng cáo riêng biệt chống lại quyết định về án phí, về thù lao và về đền bù thiệt hại; tuy nhiên, trong vòng mười lăm ngày, một bên có thể nại đến chính vị thẩm phán, vị này có thể thay đổi giá biểu phải trả.
Canon 1649
§1 The Bishop who is responsible for governing the tribunal is to establish norms concerning:1° declarations that parties are liable for the payment or reimbursement of judicial expenses;2° the honorariums for advocates, experts and interpreters, and the expenses of witnesses;3° the granting of free legal aid and the reduction of expenses;4° the payment of damages owed by a person who not merely lost the case, but was rash in having recourse to litigation;5° the money to be deposited, or the guarantee to be given, for the payment of expenses and the compensation of damages.
§2 No distinct appeal exists from a pronouncement concerning expenses, honorariums and damages. The parties can, however, have recourse within ten days to the same judge, who can change the sum involved.
Điều 1650
§1. Một bản án đã trở thành vấn đề quyết tụng có thể được thi hành, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1647.
§2. Thẩm phán đã ban hành bản án và, nếu có kháng án, cả thẩm phán tòa kháng cáo có thể chiếu theo chức vụ hoặc do lời thỉnh cầu của một bên, ra lệnh thi hành tạm thời một bản án chưa trở thành vấn đề quyết tụng, miễn là thiết lập những bảo chứng thích hợp, nếu xét thấy cần thiết, trong trường hợp vấn đề có liên quan đến tiền bảo chứng hay tiền cấp dưỡng bảo đảm cho việc sinh sống cần thiết, hoặc vì một lý do chính đáng nào khác.
§3. Nếu bản án nói ở
§2 bị chống đối, thẩm phán nào có nhiệm vụ cứu xét việc chống đối ấy, khi thấy việc kháng án có cơ sở hữu lý và việc thi hành bản án có nguy cơ gây ra một sự thiệt hại không thể sửa chữa được, thì có thể đình hoãn chính việc thi hành hoặc cho thi hành bản án với điều kiện phải nộp một khoản tiền bảo chứng.
Canon 1650
§1 A judgement which becomes adjudged matter can be executed, without prejudice to the provision of can. 1647.
§2 The judge who delivered the judgement and, if there has been an appeal, the appeal judge, can either ex officio or at the request of a party order the provisional execution of a judgement which has not yet become an adjudged matter, adding if need be appropriate guarantees when it is a matter of provisions or payments concerning necessary support. They can also do so for some other just and urgent reason.
§3 If the judgement mentioned in
§2 is challenged, the judge who must deal with the challenge can suspend the execution or subject it to a guarantee, if he sees that the challenge is probably well founded and that irreparable harm could result from execution.
Điều 1651
Không thể thi hành bản án trước khi thẩm phán ra một sắc lệnh có hiệu lực truyền phải thi hành bản án; tùy theo bản chất khác nhau của các vụ án, sắc lệnh này được bao gồm tong chính bản án hoặc được ban hành riêng.
Canon 1651
Execution cannot take place before there is issued the judge’s executing decree directing that the judgement be executed. Depending on the nature of the case, this decree is to be either included in the judgement itself or issued separately.
Điều 1652
Nếu việc thi hành bản án buộc phải xuất trình sổ sách trước, thì một vấn đề phụ được đặt ra, và phải được giải quyết do chính thẩm phán đã ban hành bản án với lệnh phải thi hành.
Canon 1652
If the execution of the judgement requires a prior statement of reasons, this is to be treated as an incidental question, to be decided by the judge who gave the judgement which is to be executed.
Điều 1653
§1. Trừ khi luật địa phương ấn định cách khác, Giám Mục giáo phận tại nơi đã ban hành bản án cấp một phải đích thân ra lệnh thi hành bản án hoặc phải nhờ một người khác.
§2. Nếu Giám Mục giáo phận từ chối hay lơ là, do sự yêu cầu của bên có liên quan hoặc chiếu theo chức vụ, thì việc ra lệnh thi hành bản án thuộc về nhà chức trách mà tòa kháng cáo lệ thuộc, chiếu theo quy tắc của điều 1439
§3.
§3. Đối với các tu sĩ, Bề Trên nào đã ban hành bản án buộc phải thi hành, hoặc đã ủy quyền cho thẩm phán, thì có bổn phận ra lệnh thi hành bản án.
Canon 1653
§1 Unless particular law provides otherwise, the Bishop of the diocese in which the first instance judgement was given must, either personally or through another, execute the judgement.
§2 If he refuses or neglects to do so, the execution of the judgement, at the request of an interested party or ex officio, belongs to the authority to which the appeal tribunal is subject in accordance with can. 1439
§3.
§3 Between religious, the execution of the judgement is the responsibility of the Superior who gave the judgement which is to be executed, or who delegated the judge.
Điều 1654
§1. Người thi hành phải bảo đảm rằng chính bản án sẽ được thi hành sát nghĩa của từ ngữ, trừ khi chính nội dung của bản án cho phép người ấy được tự do định đoạt phần nào.
§2. Người thi hành có quyền cứu xét những khước biện liên quan đến cách thức và hiệu lực của việc thi hành, nhưng không có quyền cứu xét lý lẽ phải trái của vụ án; vả lại, nếu người ấy biết rằng bản án vô hiệu hay bất công tỏ tường, chiếu theo quy tắc của các điều 1620, 1622, 1645, thì được miễn thi hành và phải trao sự việc lại cho tòa đã ban hành bản án, sau khi đã thông báo cho các bên biết.
Canon 1654
§1 The executor must execute the judgement according to the obvious sense of the words, unless in the judgement itself something is left to his discretion.
§2 He can deal with exceptions concerning the manner and the force of the execution, but not with the merits of the case. If he has ascertained from some other source that the judgement is null or manifestly unjust according to cann. 1620, 1622 and 1645, he is to refrain from executing the judgement, and is instead to refer the matter to the tribunal which delivered the judgement and to notify the parties.
Điều 1655
§1. Về phương diện tố quyền đối vật, mỗi khi một đồ vật đã được xét xử và thuộc về nguyên cáo, đồ vật ấy phải được trao cho nguyên cáo ngay sau khi xảy ra vấn đề quyết tụng.
§2. Về phương diện tố quyền đối nhân, khi bị cáo đã bị buộc phải trao một động sản, phải trả một món tiền, phải cho hay phải làm một việc gì khác, thì thẩm phán trong chính bản án, hoặc người thi hành, theo sự định đoạt tự do và theo sự khôn ngoan của mình, phải ấn định một hạn kỳ để chu toàn nghĩa vụ, nhưng hạn kỳ này không được dưới mười lăm ngày và không được quá sáu tháng.
Canon 1655
§1 In real actions, whenever it is decided that a thing belongs to the plaintiff, it is to be handed over to the plaintiff as soon as the matter has become an adjudged matter.
§2 In personal actions, when a guilty person is condemned to hand over a movable possession or to pay money, or to give or do something, the judge in the judgement itself, or the executor according to his discretion and prudence, is to assign a time limit for the fulfilment of the obligation. This time-limit is to be not less than fifteen days nor more than six months. SECTION II: THE ORAL CONTENTIOUS PROCESS
Điều 1656
§1. Tất cả các vụ án mà luật không loại trừ có thể được xét xử theo thủ tục xử án hộ sự khẩu biện được nói đến trong thiên này, trừ khi có một bên yêu cầu phải xét xử theo thủ tục xử án hộ sự thông thường.
§2. Nếu thủ tục xử án hộ sự khẩu biện được sử dụng ngoài những trường hợp mà luật cho phép, thì những án từ tư pháp sẽ bị vô hiệu.
Canon 1656
§1 The oral contentious process dealt with in this section can be used in all cases which are not excluded by law, unless a party requests an ordinary contentious process.
§2 If the oral process is used in cases other than those permitted by the law, the judicial acts are null.
Điều 1657
Việc xử án hộ sự khẩu hiệu được thực hiện ở cấp một trước mặt một thẩm phán duy nhất, chiếu theo quy tắc của điều 1424.
Canon 1657
An oral contentious process in first instance is made before a sole judge, in accordance with can. 1424.
Điều 1658
§1. Ngoài những điểm được nêu ra ở điều 1504, đơn khởi tố phải:1° trình bày vắn tắt, đầy đủ và rõ ràng những sự kiện mà nguyên cáo dựa vào đó để thỉnh cầu;2° trình bày thế nào để thẩm phán có thể thu nhập được ngay những chứng cớ mà nguyên cáo chủ ý dùng để chứng minh các sự kiện, nhưng không thể đưa ra cùng một lúc được.
§2. Phải đính kèm theo đơn những tài liệu làm nền tảng cho việc thỉnh cầu, ít ra là bản sao có công chứng.
Canon 1658
§1 In addition to the matters enumerated in can. 1504, the petition which introduces the suit must:1° set forth briefly, fully and clearly the facts on which the plaintiff’s pleas are based;2° indicate the evidence by which the plaintiff intends to demonstrate the facts and which cannot be brought forward with the petition; this is to be done in such a way that the evidence can immediately be gathered by the judge.
§2 Documents which support the plea must be added to the petition, at least in authentic copy.
Điều 1659
§1. Nếu việc cố gắng hòa giải chiếu theo quy tắc của 9iều 1446
§2 đã thát bại, và nếu nhận thấy đơn khởi tố có một vài nền tảng, thì trong vòng ba ngày, bằng một quyết định phê ở dưới đơn, thẩm phán phải ra lệnh thông báo cho bị cáo biết bản sao của đơn thỉnh cầu, và cho phép bị cáo gửi đến văn phòng tòa án một bản phúc đáp, trong vòng mười lăm ngày.
§2. Việc thông báo này có hiệu lực như việc triệu tập ra tòa được nói đến ở điều 1512.
Canon 1659
§1 If an attempt at mediation in accordance with can. 1446
§2 has proven fruitless, the judge, if he deems that the petition has some foundation, is within three days to add a decree at the foot of the petition. In this decree he is to order that a copy of the plea be notified to the respondent, with the right to send a written reply to the tribunal office within fifteen days.
§2 This notification has the effects of a judicial summons that are as mentioned in can. 1512.
Điều 1660
Nếu những khước biện của bị cáo đòi hỏi, thẩm phán phải ấn định cho nguyên cáo một thời hạn để trả lời nhằm thấy rõ đối tượng của việc tranh tụng nhờ các yếu tố do mỗi bên đưa ra.
Canon 1660
If the exceptions raised by the respondent so require, the judge is to assign the plaintiff a time-limit for a reply, so that from the material advanced by each he can clearly discern the object of the controversy.
Điều 1661
§1. Một khi các thời hạn được nói đến ở điều 1659 và 1660 đã mãn, và sau khi đã nghiên cứu các án từ, thẩm phán phải xác định thể thức nghi vấn; sau đó phải triệu tập tất cả những người có liên hệ ra toà, để họp trong vòng không quá ba mươi ngày; thể thức nghi vấn phải được đính kèm theo lệnh triệu tập các bên.
§2. Trong giấy triệu tập, phải thông báo cho các bên biết, ít nhất là ba ngày trước khi họp phiên toà, là họ có thể trình tòa một bản báo cáo vắn tắt để chứng minh những điều mà họ quả quyết.
Canon 1661
§1 When the time-limits mentioned in cann. 1659 and 1660 have expired, the judge, after examining the acts, is to determine the point at issue. He is then to summon all who must be present to a hearing, which is to be held within thirty days; for the parties, he is to add the formulation of the point at issue.
§2 In the summons the parties are to be informed that, to support their assertions, they can submit a short written statement to the tribunal at least three days before the hearing.
Điều 1662
Trong phiên toà, trước hết bàn đến những vấn đề được nói đến ở những điều 1459-1464.
Canon 1662
In the hearing, the questions mentioned in cann. 1459-1464 are considered first.
Điều 1663
§1. Phải thu nhập những chứng cớ trong phiên họp, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1418.
§2 Một đương sự và luật sư của mình có thể tham dự cuộc thẩm vấn những đương sự khác, những nhân chứng và những giám định viên.
Canon 1663
§1 The evidence is assembled during the hearing, without prejudice to the provision of can. 1418.
§2 A party and his or her advocate can assist at the examination of the other parties, of the witnesses and of the experts.
Điều 1664
Một công chứng viên phải ghi vào biên bản những câu trả lời của các bên, của các nhân chứng, của các giám định viên, những lời thỉnh cầu và khước biện của các luật sư, nhưng cần ghi cách sơ lược và chỉ ghi những điều liên quan đến nội dung của vụ tranh tụng mà thôi, biên bản này phải được những người cung khai ký vào.
Canon 1664
The replies of the parties, witnesses and experts, and the pleas and exceptions of the advocates, are to be written down by the notary in summary fashion, restricting the record to those things which bear on the substance of the controversy. This record is to be signed by the persons testifying.
Điều 1665
Những chứng cớ đã không được nêu ra hoặc đã không được hỏi đến trong đơn thỉnh nguyện hay trong các câu trả lời, chỉ có thể được thẩm phán chấp nhận chiếu theo quy tắc của điều 1452; tuy nhiên, sau khi đã nghe dù chỉ một nhân chứng, thẩm phán chỉ có thể quyết định đòi thêm những cớ mới, chiếu theo quy tắc của điều 1600.
Canon 1665
The judge can admit evidence which is not alleged or sought in the plea or the reply, but only in accordance with can. 1452. After the hearing of even one witness, however, the judge can admit new evidence only in accordance with can. 1600.
Điều 1666
Nếu không thể thu thập được tất cả mọi chứng cớ trong phiên họp đó, thì phải ấn định một phiên họp khác.
Canon 1666
If all the evidence cannot be collected during the hearing, a further hearing is to be set.
Điều 1667
Khi đã thu nhập các chứng cớ xong, thì cuộc tranh luận khẩu biện sẽ được diễn ra trong cùng một phiên họp.
Canon 1667
When the evidence has been collected, an oral discussion is to take place at the same hearing.
Điều 1668
§1. Nếu cuộc tranh luận cho thấy là không nhất thiết phải bổ túc việc thẩm cứu vụ án hoặc không có điều gì ngăn trở việc tuyên án đúng đắn, thì thẩm phán phải lập tức giải quyết vụ án một mình, sau khi đã kết thúc phiên họp; phần chủ văn của bản án phải được đọc ngay trước mặt các bên.
§2. Tuy nhiên, vì vấn đề khó khăn hay vì một lý do chính đáng khác, tòa án có thể hoãn lại việc quyết định cho đến ngày hữu dụng thứ năm.
§3. Nguyên văn bản án, kể cả các lý do được viện dẫn, bình thường phải được thông báo cho các bên biết càng sớm càng tốt, và không quá mười lăm ngày.
Canon 1668
§1 At the conclusion of the hearing, the judge can decide the case forthwith, unless it emerges from the discussion that something needs to be added to the instruction of the case, or that there is something which prevents a judgement being correctly delivered. The dispositive part of the judgement is to be read immediately in the presence of the parties.
§2 Because of the difficulty of the matter, or for some other just reason the decision of the tribunal can be deferred for up to five canonical days.
§3 The full text of the judgement, including the reasons for it, is to be notified to the parties as soon as possible, normally within fifteen days.
Điều 1669
Nếu xét thấy thủ tụ xử án hộ sự khẩu biện đã được áp dụng ở tòa án cấp dưới trong những trường hợp bị luật loại trừ, thì tòa kháng cáo phải tuyên bố bản án vô hiệu và phải gửi trả vụ án lại cho tòa đã ban hành bản án.
Canon 1669
If the appeal tribunal discerns that a lower tribunal has used the oral contentious procedure in cases which are excluded by law, it is to declare the judgement invalid and refer the case back to the tribunal which delivered the judgement.
Điều 1670
Về những vấn đề khác liên quan đến cách thức tiến hành, phải giữ những quy định của những điều liên quan đến việc xử án hộ sự thông thường. Tuy nhiên, bằng một sắc lệnh có viện dẫn lý do, tòa án có thể sửa đổi những quy tắc tố tụng không cần thiết cho sự hữu hiệu, để vấn đề được giải quyết nhanh chóng, miễn là vẫn tôn trọng công lý.
Canon 1670
In all other matters concerning procedure, the provisions of the canons on ordinary contentious trials are to be followed. In order to expedite matters, however, while safeguarding justice, the tribunal can, by a decree and for stated reasons, derogate from procedural norms which are not prescribed for validity. NULLITY OF MARRIAGE [cc. 1671-1691 have been revised by the m.p. Mitis Iudex Dominus Iesus, 15.VIII.2015] The Competent Forum