Đề mục 7. Bí tích Hôn Nhân (Điều 1055-1165)

Điều 1055

§1. Do giao ước hôn nhân, môt người nam và một người nữ tạo thành một sự hiệp thông trọn cả cuộc sống; tự bản chất, giao ước ấy hướng về lợi ích của đôi bạn, cũng như đến việc sinh sản và giáo dục con cái; Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn nhân giữa hai người đã được Rửa Tội lên hàng bí tích.
§2. Vì thế, giữa hai người đã được Rửa Tội không thể có khế ước hôn nhân thành sự, nếu đồng thời không phải là bí tích.

Canon 1055

§1 The marriage covenant, by which a man and a woman establish between themselves a partnership of their whole life, and which of its own very nature is ordered to the well-being of the spouses and to the procreation and upbringing of children, has, between the baptised, been raised by Christ the Lord to the dignity of a sacrament.
§2 Consequently, a valid marriage contract cannot exist between baptised persons without its being by that very fact a sacrament. [On the relationship between faith and the sacrament of marriage see International Theological Commission, The Reciprocity between Faith and Sacraments in the Sacramental Economy (2020), nos. 132-182]

Điều 1056

Những đặc tính chính yếu của hôn nhân là sự đơn nhất và sự bất khả phân ly, những đặc tính này có một sự bền vững đặc biệt trong hôn nhân Kitô giáo, vì có tính cách bí tích.

Canon 1056

The essential properties of marriage are unity and indissolubility; in Christian marriage they acquire a distinctive firmness by reason of the sacrament.

Điều 1057

§1. Chính sự ưng thuận của đôi bên được biểu lộ cách hợp thức giữa những người có năng cách về mặt pháp lý làm nên hôn nhân và không một quyền lực nào của loài người có thể thay thế được sự ưng thuận ấy.
§2. Sự ưng thuận hôn nhân là một hành vi của ý chí, nhờ đó một người nam và một người nữ hiến thân cho nhau và chấp nhận nhau qua một giao ước bất khả thu hồi để tạo thành hôn nhân.

Canon 1057

§1 A marriage is brought into being by the lawfully manifested consent of persons who are legally capable. This consent cannot be supplied by any human power.
§2 Matrimonial consent is an act of will by which a man and a woman by an irrevocable covenant mutually give and accept one another for the purpose of establishing a marriage.

Điều 1058

Tất cả mọi người không bị luật cấm đều có thể kết hôn.

Canon 1058

All can contract marriage who are not prohibited by law.

Điều 1059

Hôn nhân của người Công giáo, cho dù chỉ có một bên là Công giáo, bị chi phối không những bởi luật Thiên Chúa mà còn bởi luật Giáo Hội nữa, miễn là vẫn tôn trọng thẩm quyền của quyền bính dân sự đối với những hiệu quả thuần túy dân sự của chính hôn nhân này.

Canon 1059

The marriage of Catholics, even if only one party is baptised, is governed not only by divine law but also by canon law, without prejudice to the competence of the civil authority in respect of the merely civil effects of the marriage.

Điều 1060

Hôn nhân được luật ưu đãi, vì thế khi hồ nghi, hôn nhân vẫn được coi là thành sự cho đến khi có chứng cớ ngược lại.

Canon 1060

Marriage enjoys the favour of law. Consequently, in doubt the validity of a marriage must be upheld until the contrary is proven.

Điều 1061

§1. Hôn nhân thành sự giữa hai người đã được Rửa Tội mới chỉ là hôn nhân thành nhận, nếu chưa có sự hoàn hợp; hôn nhân được gọi là thành nhận và hoàn hợp, nếu hai người phối ngẫu đã thực hiện hành vi vợ chồng với nhau theo cách thức hợp với nhân tính, mà hành vi này tự nó có khả năng dẫn tới sinh sản là mục tiêu tự nhiên của hôn nhân và do hành vi đó mà hai vợ chồng trở nên một xương một thịt.
§2. Sau khi đã cử hành hôn nhân, nếu hai người phối ngẫu đã sống chung với nhau, thì hôn nhân được suy đoán là đã hoàn hợp cho đến khi có chứng cớ ngược lại.
§3. Hôn nhân bất thành được gọi là hôn nhân giả định, nếu ít là một trong hai người phối ngẫu đã cử hành hôn nhân vì ngay tình, cho đến khi cả hai người biết chắc là hôn nhân ấy bất thành.

Canon 1061

§1 A valid marriage between baptised persons is said to be merely ratified, if it is not consummated; ratified and consummated, if the spouses have in a human manner engaged together in a conjugal act in itself apt for the generation of offspring. To this act marriage is by its nature ordered and by it the spouses become one flesh.
§2 If the spouses have lived together after the celebration of their marriage, consummation is presumed until the contrary is proven.
§3 An invalid marriage is said to be putative if it has been celebrated in good faith by at least one party. It ceases to be such when both parties become certain of its nullity.

Điều 1062

§1. Lời hứa hôn đơn phương hoặc song phương, gọi là đính hôn, được chi phối bởi luật riêng do Hội Đồng Giám Mục ấn định, dựa theo phong tục và luật dân sự, nếu có.
§2. Lời hứa hôn không phát sinh tố quyền đòi phải cử hành hôn nhân, nhưng phát sinh tố quyền đòi đền bù thiệt hại theo mức độ đã gây ra.

Canon 1062

§1 A promise of marriage, whether unilateral or bilateral, called an engagement, is governed by the particular law which the Episcopal Conference has enacted, after consideration of such customs and civil laws as may exist.
§2 No right of action to request the celebration of marriage arises from a promise of marriage, but there does arise an action for such reparation of damages as may be due. CELEBRATION OF MARRIAGE

Điều 1063

Các vị chủ chăn các linh hồn buộc phải liệu sao cho cộng đoàn Giáo Hội của mình biết trợ giúp các Kitô hữu, để bậc hôn nhân được bảo tồn trong tinh thần Kitô giáo và tiến tới trong sự hoàn thiện. Việc trợ giúp này phải được thực hiện nhất là:1° bằng việc giảng thuyết, bằng việc huấn giáo thích hợp cho nhi đồng, thanh niên và người thành niên, và cũng bằng việc sử dụng các phương tịên truyền thông xã hội, nhờ đó các Kitô hữu được giáo huấn về ý nghĩa hôn nhân Kitô giáo và về vai trò của người phối ngẫu cũng như của các bậc cha mẹ Kitô giáo;2° bằng việc chuẩn bị cá nhân để kết hôn, nhờ đó hai vợ chồng được sẵn sàng hướng đến sự thánh thiện cũng như những bổn phận của bậc sống mới;3° bằng việc cử hành hôn nhân cách hữu hiệu theo phụng vụ, để minh hoạ rằng hai người phối ngẫu và biểu hiện của mầu nhiệm hiệp nhất và tình yêu phong phú giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, và họ tham dự vào mầu nhiệm ấy;4° bằng việc giúp đỡ các đôi vợ chồng, để khi trung thành gìn giữ và bảo vệ giao ước hôn nhân, họ biết sống cuộc đời đôi bạn ngày càng thánh thiện và hoàn hảo hơn.

Canon 1063

Pastors of souls are obliged to ensure that their own church community provides for Christ’s faithful the assistance by which the married state is preserved in its Christian character and develops in perfection. This assistance is to be given principally:1° by preaching, by catechetical instruction adapted to children, young people and adults, indeed by the use of the means of social communication, so that Christ’s faithful are instructed in the meaning of Christian marriage and in the role of Christian spouses and parents;2° by personal preparation for entering marriage, so that the spouses are disposed to the holiness and the obligations of their new state;3° by the fruitful celebration of the marriage liturgy, so that it clearly emerges that the spouses manifest, and participate in, the mystery of the unity and fruitful love between Christ and the Church;4° by the help given to those who have entered marriage, so that by faithfully observing and protecting their conjugal covenant, they may day by day achieve a holier and a fuller family life.

Điều 1064

Đấng Bản Quyền địa phương liệu sao để tổ chức chu đáo việc trợ giúp ấy, sau khi đã tham khảo ý kiến của các người nam cũng như nữ giàu kinh nghiệm và có chuyên môn, nếu thấy thuận tiện.

Canon 1064

It is the responsibility of the local Ordinary to ensure that this assistance is duly organised. If it is considered opportune, he should consult with men and women of proven experience and expertise.

Điều 1065

§1. Người công giáo nào chưa lãnh bí tích Thêm Sức, thì phải lãnh bí tích ấy trước khi kết hôn, nếu điều đó có thể thực hiện được mà không có bất tiện nghiêm trọng.
§2. Để lãnh nhận bí tích hôn nhân cách hữu hiệu, tha thiết khuyên nhủ đôi bạn nên lãnh nhận bí tích Sám Hối và bí tích Thánh Thể.

Canon 1065

§1 Catholics who have not yet received the sacrament of confirmation are to receive it before being admitted to marriage, if this can be done without grave inconvenience.
§2 So that the sacrament of marriage may be fruitfully received, spouses are earnestly recommended that they approach the sacraments of penance and the blessed Eucharist.

Điều 1066

Trước khi cử hành bí tích Hôn Nhân phải biết chắc không có gì cản trở việc cử hành bí tích thành sự và hợp thức

Canon 1066

Before a marriage takes place, it must be established that nothing stands in the way of its valid and lawful celebration.

Điều 1067

Hội Đồng Giám Mục phải ấn định những quy tắc về việc khảo hạch các đôi bạn, cũng như về việc rao hôn phối và về những phương thế thích hợp khác để thực hiện những cuộc điều tra, những việc đó là cần thiết trước khi cử hành hôn nhân; một khi những quy tắc ấy đã được tuân giữ cẩn thận, cha sở có thể tiến hành việc chứng hôn.

Canon 1067

The Episcopal Conference is to lay down norms concerning the questions to be asked of the parties, the publication of marriage banns, and the other appropriate means of enquiry to be carried out before marriage. Only when he has carefully observed these norms may the parish priest assist at a marriage. [According to an Authentic Interpretation of the former canon 1686 (pre-Mitis Iudex Dominus Iesus), 11.VII.1984, the pre-nuptial process in cann. 1066-1067 is sufficient for proving the state of freedom of those who, although bound to the canonical form, attempted marriage before a civil official or non-Catholic minister; in such cases the documentary process is not required]

Điều 1068

Trong cơn nguy tử, nếu không thể có những chứng cớ khác và nếu không có những dấu chỉ nghịch lại, thì chỉ cần đôi bạn cam kết, với lời thề nếu cần, rằng mình đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội và không mắc ngăn trở nào.

Canon 1068

In danger of death, if other proofs are not available, it suffices, unless there are contrary indications, to have the assertion of the parties, sworn if need be, that they are baptised and free of any impediment.

Điều 1069

Tất cả mọi tín hữu buộc phải trình báo cho cha sở hoặc cho Đấng Bản Quyền địa phương những ngăn trở mà họ biết được, trước khi hôn nhân được cử hành.

Canon 1069

Before the celebration of a marriage, all the faithful are bound to reveal to the parish priest or the local Ordinary such impediments as they may know about.

Điều 1070

Nếu người thực hiện việc điều tra không phải là cha sở có thẩm quyền chứng hôn, thì người này phải thông báo sớm hết sức cho cha sở biết kết quả việc điều tra ấy bằng một văn thư chính thức.

Canon 1070

If someone other than the parish priest whose function it is to assist at the marriage has made the investigations, he is by an authentic document to inform that parish priest of the outcome of these enquiries as soon as possible.

Điều 1071

§1. Trừ trường hợp cần thiết, nếu không có phép Đấng Bản Quyền địa phương, không ai được chứng hôn:1° hôn hân của những người không có cư sở;2° hôn nhân nào không thể được công nhận hay không thể được cử hành chiếu theo quy tắc của luật dân sự;3° hôn nhân của những người mắc những nghĩa vụ tự nhiên phát sinh do cuộc phối hợp trước, đối với bên kia hoặc đối với con cái;4° hôn nhân của người đã hiển nhiên chối bỏ đức tin Công giáo;5° hôn nhân của người còn đang bị mắc vạ;6° hôn nhân của người vị thành niên, khi cha mẹ không hay biết hoặc đã phản đối cách hợp lý;7° hôn nhân cử hành qua người đại diện, được nói đến ở điều 1105.
§2. Đấng Bản quyền địa phương không được ban phép chứng hôn cho người đã hiển nhiên chối bỏ đức tin Công giáo, trừ khi đã giữ các quy tắc được nói đến ở điều 1125, với những thích nghi cần thiết.

Canon 1071

§1 Except in a case of necessity, no one is to assist without the permission of the local Ordinary at:1° a marriage of vagi;2° a marriage which cannot be recognised by the civil law or celebrated in accordance with it;3° a marriage of a person for whom a previous union has created natural obligations towards a third party or towards children;4° a marriage of a person who has notoriously rejected the Catholic faith;5° a marriage of a person who is under censure;6° a marriage of a minor whose parents are either unaware of it or are reasonably opposed to it;7° a marriage to be entered by proxy, as mentioned in can. 1105.
§2 The local Ordinary is not to give permission to assist at the marriage of a person who has notoriously rejected the Catholic faith unless, with the appropriate adjustments, the norms of can. 1125 have been observed.

Điều 1072

Các vị chủ chăn các linh hồn phải liệu sao để ngăn cản việc cử hành hôn nhân của những người trẻ chưa tới tuổi, mà phong tục địa phương chấp nhận cho kết hôn.

Canon 1072

Pastors of souls are to see to it that they dissuade young people from entering marriage before the age customarily accepted in the region.

Điều 1073

Ngăn trở tiêu hôn làm cho người ta không có năng cách để kết hôn thành sự.

Canon 1073

A diriment impediment renders a person incapable of validly contracting a marriage.

Điều 1074

Ngăn trở được coi là công khai khi có thể chứng minh ở tòa ngoài; đối lại là ngăn trở kính đáo.

Canon 1074

An impediment is said to be public, when it can be proved in the external forum; otherwise, it is occult.

Điều 1075

§1. Việc chính thức tuyên bố khi nào luật Thiên Chúa cấm kết hôn hay tiêu hôn thuộc quyền bính tối cao của Giáo Hội mà thôi.
§2. Cũng chỉ có quyền bính tối cao ấy mới có quyền thiết lập những ngăn trở khác đối với những người đã được Rửa Tội.

Canon 1075

§1 Only the supreme authority in the Church can authentically declare when the divine law prohibits or invalidates a marriage.
§2 Only the same supreme authority has the right to establish other impediments for those who are baptised.

Điều 1076

Tục lệ nào du nhập một ngăn trở mới hoặc nghịch với những ngăn trở hiện có đều bị phi bác.

Canon 1076

A custom which introduces a new impediment, or is contrary to existing impediments, is to be reprobated.

Điều 1077

§1. Trong một trường hợp đặc biệt, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cấm những người thuộc quyền mình đang ở bất cứ nơi nào và mọi người hiện đang cư ngụ trong địa hạt của mình không được kết hôn, nhưng chỉ trong một thời gian mà thôi, vì một lý do nghiêm trọng và bao lâu lý do ấy còn kéo dài.
§2. Chỉ có quyền bính tối cao của Giáo Hội mới có thể thêm một điều khoản tiêu hôn vào lệnh cấm ấy.

Canon 1077

§1 The local Ordinary can in a specific case forbid a marriage of his own subjects, wherever they are residing, or of any person actually present in his territory; he can do this only for a time, for a grave reason and while that reason persists. [A Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 18306/2024, 10.VII.2024, clarifies that only the diocesan bishop and not the judicial vicar may remove a vetitum. The tribunal which imposed the vetitum may be “consulted” regarding its removal, but does not have power to remove it: see also the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 11248/2008, 21.IV.2008; and Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 17677/2022, 7.IV.2022, on the imposition of a vetitum according to can. 1077 and art. 251 of the Instruction Dignitas Connubi]
§2 Only the supreme authority in the Church can attach an invalidating clause to a prohibition.

Điều 1078

§1. Đấng Bản Quyền địa phương có thể miễn chuẩn cho những người thuộc quyền mình đang ở bất cứ nơi nào và mọi người đang cư ngụ trong địa hạt của mình khỏi mọi ngăn trở thuộc luật Giáo Hội, trừ những ngăn trở mà Tông Tòa dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn.
§2. Những ngăn trở mà Tông tòa dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn là:1° ngăn trở do các chức thánh, hoặc do lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh trong một hội dòng thuộc luật giáo hoàng;2° ngăn trở do tội ác được nói đến ở điều 1090.
§3. Không bao giờ được miễn chuẩn những ngăn trở do họ máu hang dọc hay họ máu hàng ngang bậc thứ hai.

Canon 1078

§1 The local Ordinary can dispense his own subjects wherever they are residing, and all who are actually present in his territory, from all impediments of ecclesiastical law, except for those whose dispensation is reserved to the Apostolic See.
§2 The impediments whose dispensation is reserved to the Apostolic See are:1° the impediment arising from sacred orders or from a public perpetual vow of chastity in a religious institute of pontifical right2° the impediment of crime mentioned in can. 1090.
§3 A dispensation is never given from the impediment of consanguinity in the direct line or in the second degree of the collateral line.

Điều 1079

§1. Trong những trường hợp nguy tử khẩn cấp, Đấng Bản Quyền địa phương có thể miễn chuẩn cho những người thuộc quyền mình đang ở bất cứ nơi nào hoặc mọi người đang cư ngụ trong địa hạt của mình khỏi phải giữ thể thức cử hành hôn nhân, và khỏi mọi ngăn trở, cũng như từng ngăn trở công khai hay kín đáo thuộc luật Giáo Hội, trừ ngăn trở do thánh chức linh mục.
§2. Trong cùng các hoàn cảnh được nói đến ở
§1, nhưng chỉ trong những trường hợp không thể đến với Đấng Bản Quyền địa phương được, thì cả cha sở hay thừa tác viên có chức thánh đã được ủy quyền hợp pháp, lẫn tư tế hay phó tế chứng hôn chiếu theo quy tắc của điều 1116
§2, đều có cùng một quyền miễn chuẩn ấy.
§3. Trong cơn nguy tử, cha giải tội có quyền miễn chuẩn những ngăn trở kín đáo ở tòa trong, vào lúc hoặc ngoài lúc ban bí tích Sám Hối.
§4. Trong trường hợp được nói đến ở
§2, phải được coi là không thể đến với Đấng Bản Quyền địa phương được, nếu chỉ có thể liên lạc với ngài qua điện tín hoặc điện thoại.

Canon 1079

§1 When danger of death threatens, the local Ordinary can dispense his own subjects, wherever they are residing, and all who are actually present in his territory, both from the form to be observed in the celebration of marriage, and from each and every impediment of ecclesiastical law, whether public or occult, with the exception of the impediment arising from the sacred order of priesthood.
§2 In the same circumstances mentioned in
§1, but only for cases in which not even the local Ordinary can be approached, the same faculty of dispensation is possessed by the parish priest, by a properly delegated sacred minister, and by the priest or deacon who assists at the marriage in accordance with can. 1116
§2.
§3 In danger of death, the confessor has the power to dispense from occult impediments for the internal forum, whether within the act of sacramental confession or outside it.
§4 In the case mentioned in
§2, the local Ordinary is considered unable to be approached if he can be reached only by telegram or by telephone.

Điều 1080

§1. Mỗi khi khám phá ra một ngăn trở vào lúc mọi sự đã sẵn sàng cho lễ cưới và không thể hoãn hôn lễ lại cho đến khi xin được phép chuẩn của nhà chức trách có thẩm quyền mà không có nguy cơ thiệt hại nặng nề có thể xảy ra, thì Đấng Bản Quyền địa phương có quyền miễn chuẩn tất cả mọi ngăn trở, trừ những ngăn trở được nói đến ở điều 1078
§2, 10, và nếu ngăn trở còn kín đáo, thì tất cả những vị được nói đến ở điều 1079 §
§2-3 cũng có quyền ấy, nhưng phải giữ những điều kiện mà điều này đòi buộc.
§2. Quyền này cũng có giá trị để thành sự hóa hôn nhân, nếu trì hoãn sẽ có nguy cơ như trên và nếu không đủ thời gian để nại đến Tông Tòa hoặc Đấng Bản Quyền địa phương, đối với những ngăn trở mà ngài có quyền miễn chuẩn được.

Canon 1080

§1 Whenever an impediment is discovered after everything has already been prepared for a wedding and the marriage cannot without probable danger of grave harm be postponed until a dispensation is obtained from the competent authority, the power to dispense from all impediments, except those mentioned in can. 1078
§2, n. 1, is possessed by the local Ordinary and, provided the case is occult, by all those mentioned in can. 1079 §
§2-3, the conditions prescribed therein having been observed.
§2 This power applies also to the validation of a marriage when there is the same danger in delay and there is no time to have recourse to the Apostolic See or, in the case of impediments from which he can dispense, to the local Ordinary.

Điều 1081

Cha sở hoặc tư tế hay phó tế được nói đến ở điều 1079
§2 phải lập tức thông báo cho Đấng Bản Quyền địa phương biết phép chuẩn đã được ban ở tòa ngoài và phải ghi phép chuẩn ấy vào sổ hôn phối.

Canon 1081

The parish priest or the priest or deacon mentioned in can. 1079
§2, should inform the local Ordinary immediately of a dispensation granted for the external forum, and this dispensation is to be recorded in the marriage register.

Điều 1082

Trừ khi phúc chiếu của Tòa Ân Giải quy định cách khác, phép chuẩn một ngăn trở kín đã được ban ở tòa trong nhưng ngoài bí tích, phải được ghi trong một cuốn sổ được lưu giữ cẩn thận tại văn khố mật của tòa giám mục, và nếu sau này ngăn trở thành công khai, thì không cần phải xin một phép chuẩn nào khác ở tòa ngoài.

Canon 1082

Unless a rescript of the Penitentiary provides otherwise, a dispensation from an occult impediment granted in the internal nonsacramental forum, is to be recorded in the book to be kept in the secret archive of the curia. No other dispensation for the external forum is necessary if at a later stage the occult impediment becomes public.

Điều 1083

§1. Người nam chưa trọn mười sáu tuổi, cũng như người nữ chưa trọn mười bốn tuổi, không thể kết hôn thành sự.
§2. Hội Đồng Giám Mục có trọn quyền ấn định tuổi cao hơn để kết hôn cách hợp thức.

Canon 1083

§1 A man cannot validly enter marriage before the completion of his sixteenth year of age, nor a woman before the completion of her fourteenth year.
§2 The Episcopal Conference may establish a higher age for the lawful celebration of marriage.

Điều 1084

§1. Bất lực giao hợp có trước khi kết hôn và vĩnh viễn, hoặc phía bên nam hoặc phía bên nữ, hoặc tuyệt đối hoặc tương đối, tự bản chất hủy tiêu hôn nhân.
§2. Nếu hồ nghi có ngăn trở bất lực, dù hồ nghi về luật hay về sự kiện, thì không được ngăn cản hôn nhân thì cũng không được tuyên bố là hôn nhân bất thành, bao lâu còn hồ nghi.
§3. Tình trạng son sẻ không ngăn cản và cũng không hủy tiêu hôn nhân, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1098.

Canon 1084

§1 Antecedent and perpetual impotence to have sexual intercourse, whether on the part of the man or on that of the woman, whether absolute or relative, by its very nature invalidates marriage.
§2 If the impediment of impotence is doubtful, whether the doubt be one of law or one of fact, the marriage is not to be prevented nor, while the doubt persists, is it to be declared null.
§3 Without prejudice to the provisions of can. 1098, sterility neither forbids nor invalidates a marriage.

Điều 1085

§1. Người đang bị ràng buộc bởi dây hôn nhân trước, dù chưa hòa hợp, thì kết hôn cũng bất thành.
§2. Dù hôn nhân trước bất thành hoặc được tháo gỡ vì bất cứ lý do nào, thì không vì đó mà được phép kết hôn lần nữa, trước khi thấy rõ cách hợp thức và chắc chắn rằng hôn nhân trước đã bất thành hoặc đã được tháo gỡ.

Canon 1085

§1 A person bound by the bond of a previous marriage, even if not consummated, invalidly attempts marriage.
§2 Even though the previous marriage is invalid or for any reason dissolved, it is not thereby lawful to contract another marriage before the nullity or the dissolution of the previous one has been established lawfully and with certainty.

Điều 1086

§1. Hôn nhân giữa một người đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo Hội ấy với một người không được Rửa Tội, thì bất thành.
§2. Không được miễn chuẩn ngăn trở này, trừ khi đã hội đủ các điều kiện được nói đến ở điều 1125 và 1126.
§3. Nếu vào lúc kết hôn, một bên vốn được coi là đã được Rửa Tội, hoặc hồ nghi về việc Rửa Tội của người ấy, thì chiếu theo quy tắc của điều 1060, hôn nhân phải được suy đoán là thành sự, cho đến khi chứng minh được cách chắc chắn là một bên đã được Rửa Tội, còn bên kia thì không.

Canon 1086

§1 A marriage between two persons, one of whom was baptized in the Catholic Church or received into it, and the other of whom is not baptized, is invalid. [Revised wording according to m.p. Omnium in mentem, 26.X.2009]
§2 This impediment is not to be dispensed unless the conditions mentioned in cann. 1125 and 1126 have been fulfilled.
§3 If at the time the marriage was contracted one party was commonly understood to be baptised, or if his or her baptism was doubtful, the validity of the marriage is to be presumed in accordance with can. 1060, until it is established with certainty that one party was baptised and the other was not.

Điều 1087

Những người đã lãnh nhận chức thánh kết hôn cũng bất thành.

Canon 1087

Those who are in sacred orders invalidly attempt marriage. [On the question of sacraments celebrated by a priest who has attempted marriage see Declaration of the Dicastery for Legislative Texts, 19.V.1997]

Điều 1088

Những người bị ràng buộc bởi lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh trong một hội dòng kết hôn cũng bất thành.

Canon 1088

Those who are bound by a public perpetual vow of chastity in a religious institute invalidly attempt marriage.

Điều 1089

Không thể có hôn nhân giữa một người nam và một người nữ bị bắt cóc hay ít là bị giam giữ với chủ ý kết hôn với người nữ ấy, trừ khi người nữ tự ý lựa chọn cuộc hôn nhân ấy, sau khi đã được tách rời khỏi người bắt cóc và được đặt ở một nơi an toàn và tự do.

Canon 1089

No marriage can exist between a man and a woman who has been abducted, or at least detained, with a view to contracting a marriage with her, unless the woman, after she has been separated from her abductor and established in a safe and free place, chooses marriage of her own accord.

Điều 1090

§1. Kẻ chủ ý kết hôn với một người nào đó mà gây ra cái chết cho người phối ngẫu của người ấy hay của mình, thì việc kết hôn này bất thành.
§2. Những người đã cộng tác với nhau cách thể lý hay luân lý để giết người phối ngẫu của họ, dù kết hôn với nhau cũng bất thành.

Canon 1090

§1 One who, with a view to entering marriage with a particular person, has killed that person’s spouse, or his or her own spouse, invalidly attempts this marriage.
§2 They also invalidly attempt marriage with each other who, by mutual physical or moral action, brought about the death of either’s spouse.

Điều 1091

§1. Những người có họ máu hàng dọc, từ dưới lên và từ trên xuống, hoặc pháp lý hoặc tự nhên, kết hôn với nhau bất thành.
§2. Trong họ máu hàng ngang, hôn nhân bất thành cho đến hết bậc thứ bốn.
§3. Ngăn trở họ máu không nhân cấp.
§4. không bao giờ cho phép kết hôn, nếu còn hồ nghi hai bên có họ máu với nhau ở bất cứ bậc nào thuộc hàng dọc hay ở bậc thứ hai thuộc hàng ngang.

Canon 1091

§1 Marriage is invalid between those related by consanguinity in all degrees of the direct line, whether ascending or descending, legitimate or natural.
§2 In the collateral line, it is invalid up to the fourth degree inclusive.
§3 The impediment of consanguinity is not multiplied.
§4 A marriage is never to be permitted if a doubt exists as to whether the parties are related by consanguinity in any degree of the direct line, or in the second degree of the collateral line.

Điều 1092

Những người có họ kết bạn ở bất cứ bậc nào thuộc hàng dọc kết hôn với nhau bất thành.

Canon 1092

Affinity in any degree of the direct line invalidates marriage.

Điều 1093

Ngăn trở công hạnh phát sinh từ một cuộc hôn nhân bất thành sau khi đã sống chung do tư hôn công khai hay hiển nhên; ngăn trở này tiêu hôn ở bậc thứ nhất thuộc hàng dọc giữa người chồng với những người nữ có họ máu với người vợ, và ngược lại.

Canon 1093

The impediment of public propriety arises when a couple live together after an invalid marriage, or from a notorious or public concubinage. It invalidates marriage in the first degree of the direct line between the man and those related by consanguinity to the woman, and vice versa.

Điều 1094

Những người có họ với nhau do việc nhận con nuôi được pháp luật công nhận kết hôn với nhau bất thành ở hàng dọc hoặc ở bậc thứ hai thuộc hàng ngang.

Canon 1094

Those who are legally related by reason of adoption cannot validly marry each other if their relationship is in the direct line or in the second degree of the collateral line.

Điều 1095

Không có khả năng kết hôn:1° những người không sử dụng đủ trí khôn;2° những người thiếu nghiêm trọng óc phán đoán về quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của việc trao ban và lãnh nhận nhau trong hôn nhân;3° những người không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân vì những nguyên nhân thuộc bản chất tâm lý.

Canon 1095

The following are incapable of contracting marriage:1° those who lack sufficient use of reason;2° those who suffer from a grave lack of discretionary judgement concerning the essential matrimonial rights and obligations to be mutually given and accepted;3° those who, because of causes of a psychological nature, are unable to assume the essential obligations of marriage.

Điều 1096

§1. Để có thể có sự ưng thuận hôn nhân, hai người kết ước ít nhất phải biết hôn nhân là một sự hiệp thông vĩnh viễn giữa môt người nam và một người nữ, nhắm đến việc sinh sản con cái do một sự cộng tác nào đó thuộc phạm vi phái tính.
§2. Sau tuổi dậy thì, phải suy đoán là có sự hiểu biết trên đây.

Canon 1096

§1 For matrimonial consent to exist, it is necessary that the contracting parties be at least not ignorant of the fact that marriage is a permanent partnership between a man and a woman, ordered to the procreation of children through some form of sexual cooperation.
§2 This ignorance is not presumed after puberty.

Điều 1097

§1. Sự lầm lẫn về nhân thân làm cho hôn nhân bất thành.
§2. Sự lầm lẫn về tư cách của một người, ngay cả khi tư cách ấy là nguyên nhân của khế ước, không làm cho hôn nhân bất thành, trừ khi tư cách ấy được nhắm đến cách trực tiếp và chủ yếu.

Canon 1097

§1 Error about a person renders a marriage invalid.
§2 Error about a quality of the person, even though it be the reason for the contract, does not render a marriage invalid unless this quality is directly and principally intended.

Điều 1098

Người kết hôn bị lừa gạt về một tư cách nào đó của phía bên kia, với chủ ý để mình ưng thuận, và nếu tư cách ấy tự bản chất có thể làm xáo trộn nghiêm trọng sự hiệp thông vợ chồng, thì hôn nhân bất thành.

Canon 1098

A person contracts invalidly who enters marriage inveigled by deceit, perpetrated in order to secure consent, concerning some quality of the other party, which of its very nature can seriously disrupt the partnership of conjugal life.

Điều 1099

Sự lầm lẫn về tính đơn nhất hay tính bất khả phân ly hoặc về phẩm giá bí tích của hôn nhân không làm cho sự ưng thuận hôn nhân bị hà tỳ, miễn là sự lầm lẫn ấy không chi phối ý chí.

Canon 1099

Provided it does not determine the will, error concerning the unity or the indissolubility or the sacramental dignity of marriage does not vitiate matrimonial consent.

Điều 1100

Việc biết hay tưởng rằng hôn nhân vô hiệu không nhất thiết loại trừ sự ưng thuận của hôn nhân.

Canon 1100

Knowledge of or opinion about the nullity of a marriage does not necessarily exclude matrimonial consent.

Điều 1101

§1. Sự ưng thuận trong lòng được suy đoán là phù hợp với những lời nói hay những dấu chỉ được sử dụng trong khi cử hành hôn nhân.
§2. Nếu một bên hay cả hai bên, bằng một hành vi tích cực của ý chí, loại trừ chính hôn nhân, hoặc một yếu tố chính yếu nào, hoặc một đặc tính chính yếu nào của hôn nhân, thì họ kết hôn với nhau bất thành.

Canon 1101

§1 The internal consent of the mind is presumed to conform to the words or the signs used in the celebration of a marriage.
§2 If, however, either or both of the parties should by a positive act of will exclude marriage itself or any essential element of marriage or any essential property, such party contracts invalidly.

Điều 1102

§1. Kết hôn với điều kiện về tương lai thì bất thành.
§2. Kết hôn với điều kiện về quá khứ hay hiện tại có thành sự hay không là tùy theo nội dung của điều kiện ấy có hay không.
§3. Tuy nhiên, điều kiện được nói đến ở
§2 không thể được đặt ra cách hợp pháp, trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương cho phép bằng văn bản.

Canon 1102

§1 Marriage cannot be validly contracted subject to a condition concerning the future.
§2 Marriage entered into subject to a condition concerning the past or the present is valid or not, according as whatever is the basis of the condition exists or not.
§3 However, a condition as mentioned in
§2 may not lawfully be attached except with the written permission of the local Ordinary.

Điều 1103

Hôn nhân bất thành, nếu vì bạo lực hay vì sợ hãi nghiêm trọng từ bên ngoài, mặc dầu không cố tình gây nên, người ta buộc phải lựa chọn hôn nhân để tự giải thoát.

Canon 1103

A marriage is invalid which was entered into by reason of force or of grave fear imposed from outside, even if not purposely, from which the person has no escape other than by choosing marriage. [This defect of consent can be applied to marriages of non- Catholics: see Authentic Interpretation of canon 1103, 23.IV.1987]

Điều 1104

§1. Để kết hôn thành sự, hai bên kết ước cần phải có mặt cùng một lúc, hoặc đích thân, hoặc qua người đại diện.
§2. Hai vợ chồng phải biểu lộ sự ưng thuận hôn nhân bằng lời nói, nhưng nếu không thể nói được, thì bằng những dấu hiệu tương đương.

Canon 1104

§1 To contract marriage validly it is necessary that the contracting parties be present together, either personally or by proxy.
§2 The spouses are to express their matrimonial consent in words; if, however, they cannot speak, then by equivalent signs.

Điều 1105

§1. Để việc kết hôn qua người đại diện được thành sự thì buộc:1° phải có một sự ủy nhiệm đặc biệt để kết hôn với một người nhất định;2° người đại diện phải phải được chính người ủy nhiệm chỉ định, và chính họ đích thân chu toàn phận sự.
§2. Để có hiệu lực, giấy ủy nhiệm phải được người ủy nhiệm ký tên, và ngoài ra còn phải có chữ ký của cha sở hay của Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi làm giấy ủy nhiệm, hoặc của một linh mục được một trong hai người ủy nhiệm, hoặc của ít nhất là hai nhân chứng, hoặc phải được soạn dựa vào một văn bản chính thức chiếu theo quy tắc của luật dân sự.
§3. Nếu người ủy nhiệm không biết viết, thì phải ghi chú điều ấy vào chính giấy ủy nhiệm và phải có thêm một nhân chứng khác, chính nhân chứng này cũng phải ký tên vào giấy ủy nhiệm; bằng không, giấy ủy nhiệm sẽ vô giá trị.
§4. Nếu người ủy nhiệm thu hồi giấy ủy nhiệm hoặc bị mất trí trước khi người đại diện kết hôn nhân danh người ủy nhiệm, thì hôn nhân bất thành, ngay cả khi người đại diện hay người kết ước kia không biết những việc đó.

Canon 1105

§1 For a marriage by proxy to be valid, it is required:1° that there be a special mandate to contract with a specific person;2° that the proxy be designated by the mandator and personally discharge this function;
§2 For the mandate to be valid, it is to be signed by the mandator, and also by the parish priest or local Ordinary of the place in which the mandate is given or by a priest delegated by either of them or by at least two witnesses, or it is to be drawn up in a document which is authentic according to the civil law.
§3 If the mandator cannot write, this is to be recorded in the mandate and another witness added who is also to sign the document; otherwise, the mandate is invalid.
§4 If the mandator revokes the mandate, or becomes insane, before the proxy contracts in his or her name, the marriage is invalid, even though the proxy or the other contracting party is unaware of the fact.

Điều 1106

Có thể kết hôn qua thông dịch viên; tuy nhiên, cha sở không được chứng hôn, trừ khi biết rõ lòng trung thực của thông dịch viên.

Canon 1106

Marriage can be contracted through an interpreter, but the parish priest may not assist at such a marriage unless he is certain of the trustworthiness of the interpreter.

Điều 1107

Ngay cả khi kết hôn bất thành vì có một ngăn trở hay vì thiếu thể thức, sự ưng thuận đã bày tỏ trước đây được suy đoán là vẫn còn, cho đến khi biết rõ là sự ưng thuận đã bi thu hồi lại.

Canon 1107

Even if a marriage has been entered into invalidly by reason of an impediment or defect of form, the consent given is presumed to persist until its withdrawal has been established. [See the annotation to canon 1161 (Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 18615/2025, 17.VII.2025)]

Điều 1108

§1. Hôn nhân chỉ thành sự khi được kết ước trước mặt vị chứng hôn, là Đấng Bản Quyền địa phương hay cha sở, hoặc một tư tế hay một phó tế đã được một rong hai vị trên ủy quyền, và trước mặt hai nhân chứng, nhưng phải theo những quy tắc được quy định trong những điều khoản sau đây, và miễn là vẫn giữ nguyên những biệt lệ được nói đến ở các điều 144, 1112
§1, 1116 và 1127 §
§1-2.
§2. Vị chứng hôn chỉ được hiểu là người hiện diện để yêu cầu hai bên kết ước biểu lộ sự ưng thuận và để nhân danh Giáo Hội chấp nhận sự biểu lộ ấy.

Canon 1108

§1 Only those marriages are valid which are contracted in the presence of the local Ordinary or parish priest or of the priest or deacon delegated by either of them, who, in the presence of two witnesses, assists, in accordance however with the rules set out in the following canons, and without prejudice to the exceptions mentioned in cann. 144, 1112
§1, 1116 and 1127 §
§2-3. [See Authentic Interpretation of canon 87
§1, 5.VII.1985 which states that outside the case of urgent danger of death a bishop may not grant a dispensation from canonical form for the marriage of two Catholics] [On whether a transgender person or a homosexual who is cohabiting may be a witness to a marriage see Dicastery for the Doctrine of the Faith, Answers to several questions, 31.X.2023, nos. 3 and 6]
§2 Only that person who, being present, asks the contracting parties to manifest their consent and in the name of the Church receives it, is understood to assist at a marriage.
§3. Only a priest validly assists at the marriage between two Eastern parties or between one Latin party and one Eastern Catholic or non-Catholic party. [New paragraph added by m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016]

Điều 1109

Chiếu theo chức vụ, Đấng Bản Quyền địa phương và cha sở chứng hôn thành sự trong giới hạn địa hạt của mình, chẳng những cho những người thuộc quyền, mà còn cho cả những người không thuộc quyền, miễn là một trong hai người thuộc lễ để Latinh, trừ khi các vị ấy bị vạ tuyệt thông, hoặc vạ cấm chế, hoặc bị huyền chức do án lệnh hay do sắc lệnh, hoặc đã bị tuyên bố như vậy.

Canon 1109

Unless the local ordinary and pastor have been excommunicated, interdicted, or suspended from office or declared such through a sentence or decree, by virtue of their office and within the confines of their territory they assist validly at the marriages not only of their subjects but also of those who are not their subjects, provided that at least one of the two parties is ascribed to the Latin Church. [Revised wording according to m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016]

Điều 1110

Đấng Bản Quyền và cha sở tòng nhân, chiếu theo chức vụ, chỉ chứng hôn thành sự cho những đôi nào, mà ít ra một người kết ước là người thuộc quyền mình, trong giới hạn thẩm quyền của mình.

Canon 1110

A personal Ordinary and a personal parish priest by virtue of their office validly assist, within the confines of their jurisdiction, at the marriages only of those of whom at least one party is their subject.

Điều 1111

§1. Bao lâu còn chu toàn giáo vụ của mình cách hữu hiệu, Đấng Bản Quyền địa phương và cha sở có thể ủy nhiệm năng quyền, kể cả năng quyền tổng quát, cho các tư tế và phó tế, để chứng hôn trong giới hạn của địa hạt mình.
§2. Để được hữu hiệu, việc ủy nhiệm năng quyền chứng hôn phải được minh nhiên ban cho những người nhất định; nếu là một sự ủy quyền riêng biệt, thì có giá trị đối với một hôn nhân nhất định, còn nếu là một sự ủy nhiệm tổng quát, thì phải ban bằng văn bản.

Canon 1111

§1 As long as they hold office validly, the local ordinary and the pastor can delegate to priests and deacons the faculty, even a general one, of assisting at marriages within the limits of their territory, without prejudice to the provision of can. 1108
§3. [Revised wording according to m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016] [A letter of the Pontifical Commission Ecclesia Dei, 27.III.2017, authorizes Ordinaries to give permission for marriages of members of the Society of Saint Pius X to be validly and lawfully celebrated in the Catholic Church]
§2 In order that the delegation of the faculty to assist at marriages be valid, it must be expressly given to specific persons; if there is question of a special delegation, it is to be given for a specific marriage; if however there is question of a general delegation, it is to be given in writing.

Điều 1112

§1. Ở đâu thiếu tư tế và phó tế, Giám Mục giáo phận có thể ủy quyền cho giáo dân để chứng hôn, sau khi được Hội Đồng Giám Mục chấp thuận và được Tòa Thánh ban phép.
§2. Phải chọn một người giáo dân có khả năng xứng hợp để có thể đào tạo các đôi vợ chồng tương lai và có đủ tư cách cử hành phụng vụ hôn nhân cách đúng phép.

Canon 1112

§1 With the prior favourable opinion of the conference of bishops and after the permission of the Holy See has been obtained, the diocesan bishop can delegate lay persons to assist at marriages where priests or deacons are lacking, without prejudice to the provision of can. 1108
§3. [Revised wording according to m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016]
§2 A suitable lay person is to be selected, capable of giving instruction to those who are getting married, and fitted to conduct the marriage liturgy properly.

Điều 1113

Trước khi ban ủy quyền riêng biệt, phải chu toàn tất cả những gì luật đã ấn định để chứng minh tình trạng thong dong của các bên.

Canon 1113

§1 Before a special delegation is granted, provision is to be made for all those matters which the law prescribes to establish the freedom to marry.

Điều 1114

Người chứng hôn hành động bất hợp pháp, nếu họ không có sự xác tín về tình trạng thong dong của những người kết ước chiếu theo quy định của luật cũng như về phép của cha sở, nếu có thể, mỗi khi họ chứng hôn do một sự ủy quyền tổng quát.

Canon 1114

One who assists at a marriage acts unlawfully unless he has satisfied himself of the parties’ freedom to marry in accordance with the law and, whenever he assists by virtue of a general delegation, has satisfied himself of the parish priest’s permission, if this is possible.

Điều 1115

Hôn nhân phải được cử hành tại giáo xứ mà một trong hai người kết ước có cư sở hoặc bán cư sở hay đã cư ngụ một tháng, hoặc nếu là những người không có cư sở, phải được cử hành tại giáo xứ mà họ đang cư ngụ; hôn nhân có thể được cử hành tại nơi khác, khi có phép của Đấng Bản Quyền riêng hay của cha sở riêng.

Canon 1115

Marriages are to be celebrated in the parish in which either of the contracting parties has a domicile or a quasi-domicile or a month’s residence or, if there is question of vagi, in the parish in which they are actually residing. With the permission of the proper Ordinary or the proper parish priest, marriages may be celebrated elsewhere.

Điều 1116

§1. Nếu không thể có hay không thể đến với một vị chứng hôn có thẩm quyền chiếu theo quy tắc của luật, mà không gặp bất tiện nặng, thì những người nào muốn kết hôn thật sự, có thể kết hôn cách thành sự và hợp pháp trước mặt các nhân chứng mà thôi:1° trong trường hợp nguy tử;2° ngoài trường hợp nguy tử, miễn là dự đoán theo sự khôn ngoan rằng tình trạng ấy sẽ kéo dài suốt tháng.
§2. Trong cả hai trường hợp, nếu có một tư tế hay một phó tế khác có thể hiện diện, thì phải mời vị ấy đến chứng kiến buổi cử hành hôn lễ cùng với các nhân chứng, mặt dù hôn nhân trước mặt các nhân chứng mà thôi vẫn thành sự.

Canon 1116

§1 If one who, in accordance with the law, is competent to assist, cannot be present or be approached without grave inconvenience, those who intend to enter a true marriage can validly and lawfully contract in the presence of witnesses only:1° in danger of death;2° apart from danger of death, provided it is prudently foreseen that this state of affairs will continue for a month.
§2 In either case, if another priest or deacon is at hand who can be present, he must be called upon and, together with the witnesses, be present at the celebration of the marriage, without prejudice to the validity of the marriage in the presence of only the witnesses.
§3 In addition to the provisions established in
§1, nn. 1 and 2, the local ordinary can confer to any Catholic priest the faculty to bless the marriage of faithful Christians of the Eastern Churches who are not in full communion with the Catholic Church if they request it spontaneously, and provided there is nothing to preclude the valid and licit celebration of the marriage. The same priest, however, with the necessary prudence, shall inform the competent authority of the interested non-Catholic Church of the case. [New paragraph added by m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016]

Điều 1117

Phải tuân giữ thể thức ấn định ở trên, nếu ít là một trong hai bên kết ước đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hay đã được nhận vào Giáo Hội Công giáo, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định ở điều 1127
§2.

Canon 1117

The form prescribed above must be observed if at least one of the parties contracting the marriage was baptized in the Catholic Church or received into it, without prejudice to the provisions of can. 1127
§2. [Revised wording according to m.p. Omnium in mentem, 26.X.2009] [See Authentic Interpretation of canon 87
§1, 5.VII.1985 which states that outside the case of urgent danger of death a bishop may not grant a dispensation from canonical form for the marriage of two Catholics]

Điều 1118

§1. Hôn nhân giữa hai người Công giáo hoặc giữa một người Công giáo và một người đã được Rửa Tội ngoài Giáo Hội Công giáo phải được cử hành trong nhà thờ giáo xứ, hôn nhân này có thể cử hành trong một nhà thờ khác hoặc trong một nhà nguyện, nếu có phép của Đấng Bản Quyền địa phương hay của cha sở.
§2. Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép cử hành hôn nhân tại một nơi thích hợp khác.
§3. Hôn nhân giữa một người Công giáo và một người không được Rửa Tội có thể được cử hành trong nhà thờ hay tại một nơi thích hợp khác.

Canon 1118

§1 A marriage between Catholics, or between a Catholic party and a baptised non-Catholic, is to be celebrated in the parish church. By permission of the local Ordinary or of the parish priest, it may be celebrated in another church or oratory.
§2 The local Ordinary can allow a marriage to be celebrated in another suitable place.
§3 A marriage between a Catholic party and an unbaptised party may be celebrated in a church or in another suitable place.

Điều 1119

Ngoài trường hợp cần thiết, khi cử hành hôn nhân phải tuân giữ các nghi lễ đã được quy định trong các sách phụng vụ do Giáo Hội phê chuẩn, hoặc đã được du nhập do các tục lệ hợp pháp.

Canon 1119

Apart from a case of necessity, in the celebration of marriage those rites are to be observed which are prescribed in the liturgical books approved by the Church, or which are acknowledged by lawful customs.

Điều 1120

Hội Đồng Giám Mục có thể soạn thảo một nghi lễ hôn nhân riêng, nghi lễ này phải được Tông Tòa chuẩn nhận và phải lưu ý đến những tục lệ địa phương và dân gian đã được thích nghi với tinh thần Kitô giáo, nhưng vẫn giữ nguyên luật buộc vị chứng hôn hiện diện phải yêu cầu những người kết ước biểu lộ sự ưng thuận và phải chấp nhận sự biểu lộ ấy.

Canon 1120

The Episcopal Conference can draw up its own rite of marriage, in keeping with those usages of place and people which accord with the Christian spirit; it is to be reviewed by the Holy See, and it is without prejudice to the law that the person who is present to assist at the marriage is to ask for and receive the expression of the consent of the contracting parties. [On the juridical nature and scope of the review (recognitio) see Explanatory Note of the Dicastery for Legislative Texts, 28.IV.2006]

Điều 1121

§1. Một khi hôn nhân đã được cử hành, cha sở nơi cử hành hôn nhân hay vị thay thế ngài, cho dù không ai là người chứng hôn, phải sớm hết sức ghi vào sổ hôn nhân tên của đôi vợ chồng, của vị chứng hôn và của các nhân chứng, nơi và ngày cử hành hôn nhân, theo thể thức do Hội Đồng Giám Mục hay Giám Mục giáo phận quy định.
§2. Mỗi khi hôn nhân được kết ước chiếu theo quy tắc của điều 1116, tư tế hay phó tế, nếu đã có mặt trong hôn lễ, hoặc nếu không thì các nhân chứng, buộc phải liên đới với những người kết ước để thông báo sớm hết sức cho cha sở hoặc Đấng Bản Quyền địa phương biết hôn nhân đã được kết ước.
§3. Về hôn nhân đã được kết ước với phép chuẩn khỏi giữ thể thức giáo luật, Đấng Bản Quyền địa phương đã ban phép chuẩn phải liệu sao để phép chuẩn và việc cử hành được ghi vào sổ hôn nhân của tòa giám mục cũng như của giáo xứ riêng phía bên Công giáo mà cha sở đã điều tra về tình trạng thong dong. Người phối ngẫu Công giáo buộc phải thông báo sớm hết sức cho Đấng Bản Quyền và cha sở biết là hôn nhân đã được cử hành, cũng phải chỉ rõ nơi cử hành và thể thức công khai đã tuân giữ.

Canon 1121

§1 As soon as possible after the celebration of a marriage, the parish priest of the place of celebration or whoever takes his place, even if neither has assisted at the marriage, is to record in the marriage register the names of the spouses, of the person who assisted and of the witnesses, and the place and date of the celebration of the marriage; this is to be done in the manner prescribed by the Episcopal Conference or by the diocesan Bishop.
§2 Whenever a marriage is contracted in accordance with can. 1116, the priest or deacon, if he was present at the celebration, otherwise the witnesses, are bound jointly with the contracting parties as soon as possible to inform the parish priest or the local Ordinary about the marriage entered into.
§3 In regard to a marriage contracted with a dispensation from the canonical form, the local Ordinary who granted the dispensation is to see to it that the dispensation and the celebration are recorded in the marriage register both of the curia, and of the proper parish of the Catholic party whose parish priest carried out the inquiries concerning the freedom to marry. The Catholic spouse is obliged as soon as possible to notify that same Ordinary and parish priest of the fact that the marriage was cele brated, indicating also the place of celebration and the public form whichwas observed.

Điều 1122

§1. Việc kết ước hôn nhân cũng phải được ghi chú vào sổ Rửa Tội, trong đó đã ghi việc lãnh nhận bí tích Rửa Tội của hai vợ chồng.
§2. Nếu một người phối ngẫu không kết ước hôn nhân trong giáo xứ mình đã được Rửa Tội, thì cha sở nơi cử hành hôn lễ phải thông báo sớm hết sức cho cha sở nơi đương sự đã được Rửa Tội biết là hôn nhân đã được ký kết.

Canon 1122

§1 A marriage which has been contracted is to be recorded also in the baptismal registers in which the baptism of the spouses was entered.
§2 If a spouse contracted marriage elsewhere than in the parish of baptism, the parish priest of the place of celebration is to send a notification of the marriage as soon as possible to the parish priest of the place of baptism.

Điều 1123

Mỗi khi hôn nhân hoặc được thành sự hóa ở tòa ngoài, hoặc được tuyên bố là bất thành, hoặc được tháo gỡ cách hợp thức vì một lý do khác ngoài lý do tử vong, thì phải thông báo cho cha sở nơi cử hành hôn nhân biết điều ấy, để ghi chú đầy đủ vào sổ hôn phối và sổ Rửa Tội.

Canon 1123

Whenever a marriage is validated for the external forum, or declared invalid, or lawfully dissolved other than by death, the parish priest of the place of the celebration of the marriage must be informed, so that an entry may be duly made in the registers of marriage and of baptism.

Điều 1124

Nếu không có phép minh nhiên của thẩm quyền, cấm kết hôn giữa hai người đã được Rửa Tội, mà một người đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo Hội Công giáo sau khi được Rửa Tội, còn người kia đã gia nhập vào một Giáo Hội hoặc một cộng đoàn Giáo Hội không thông hiệp trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo.

Canon 1124

Marriage between two baptized persons, one of whom was baptized in the Catholic Church or received into it after baptism, and the other a member of a Church or ecclesial community not in full communion with the Catholic Church, cannot be celebrated without the express permission of the competent authority. [Revised wording according to m.p. Omnium in mentem, 26.X.2009]

Điều 1125

Đấng Bản Quyền địa phương có thể ban phép trên đây, nếu có một lý do chính đáng và hợp lý, nhưng không được ban phép ấy, nếu không hội đủ điều kiện sau đây:1° bên Công giáo phải tuyên bố mình sẵn sàng tránh mọi nguy cơ mất đức tin và thành thật cam kết sẽ làm hết sức để tất cả con cái được Rửa Tội và được giáo dục trong Giáo Hội Công giáo;2° phải kịp thời thông báo thế nào cho bên không Công giáo biết những điều bên Công giáo phải cam kết, để họ ý thức thật sự về lời cam kết và nghĩa vụ của bên Công giáo;3° cả hai bên phải được giáo huấn về những mục đích và đặc tính chính yếu của hôn nhân mà không bên nào được phép loại bỏ.

Canon 1125

The local Ordinary can grant this permission if there is a just and reasonable cause. He is not to grant it unless the following conditions are fulfilled:1° the Catholic party is to declare that he or she is prepared to remove dangers of defecting from the faith, and is to make a sincere promise to do all in his or her power in order that all the children be baptised and brought up in the Catholic Church;2° the other party is to be informed in good time of these promises to be made by the Catholic party, so that it is certain that he or she is truly aware of the promise and of the obligation of the Catholic party;3° both parties are to be instructed about the purposes and essential properties of marriage, which are not to be excluded by either contractant.

Điều 1126

Hội Đồng Giám Mục ấn định thể thức làm tờ tuyên bố và cam kết mà luật luôn đòi buộc, cũng như quy định thể thức thực hiện ở tòa ngoài và thể thức thông báo cho bên không Công giáo biết điều ấy.

Canon 1126

It is for the Episcopal Conference to prescribe the manner in which these declarations and promises, which are always required, are to be made, and to determine how they are to be established in the external forum, and how the non-Catholic party is to be informed of them.

Điều 1127

§1. Về thể thức được áp dụng trong hôn nhân hỗn hợp, phải tuân giữ những quy định của điều 1108; tuy nhiên, nếu bên Công giáo kết hôn với bên không Công giáo thuộc lễ điển Đông Phương, thì thể thức cử hành theo giáo luật phải được tuân giữ để hôn nhân được hợp thức mà thôi; nhưng để hôn nhân được thành sự, thì buộc phải có sự can thiệp của thừa tác viên có chức thánh, miễn là vẫn giữ những luật khác phải giữ.
§2. Nếu có những khó khăn nghiêm trọng ngăn cản việc tuân giữ thể thức giáo luật, Đấng Bản Quyền địa phương bên Công giáo có quyền miễn chuẩn khỏi giữ thể thức ấy trong từng trường hợp, nhưng phải tham khảo ý kiến của Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi cử hành hôn nhân và phải giữ một thể thức cử hành công khai nào đó, để hôn nhân được thành sự; việc ấn định những quy tắc để ban phép chuẩn nói trên một cách đồng nhất thuộc Hội Đồng Giám Mục.
§3. Dù trước hay sau khi cử hành hôn nhân theo giáo luật chiếu theo quy tắc của
§1, cấm cử hành hôn nhân theo nghi thức tôn giáo một lần nữa để bày tỏ hay lặp lại sự ưng thuận hôn nhân; cũng không được cử hành nghi thức tôn giáo, trong đó vị chứng hôn Công giáo và thừa tác viên không Công giáo cùng yêu cầu các bên bày tỏ sự ưng thuận, mỗi vị cử hành theo nghi thức của mình.

Canon 1127

§1 The prescripts of can. 1108 are to be observed for the form to be employed in a mixed marriage; if however a Catholic party contracts marriage with a non-Catholic party of an Eastern Rite, the canonical form of the celebration must be observed for liceity only; for validity, however, the presence of a priest is required notwithstanding whatever else is to be observed in accordance with the law. [Revised wording according to m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016]
§2 If there are grave difficulties in the way of observing the canonical form, the local Ordinary of the Catholic party has the right to dispense from it in individual cases, having however consulted the Ordinary of the place of the celebration of the marriage; for validity, however, some public form of celebration is required. It is for the Episcopal Conference to establish norms whereby this dispensation may be granted in a uniform manner.
§3 It is forbidden to have, either before or after the canonical celebration in accordance with
§1, another religious celebration of the same marriage for the purpose of giving or renewing matrimonial consent. Likewise, there is not to be a religious celebration in which the Catholic assistant and a non-Catholic minister, each performing his own rite, ask for the consent of the parties.

Điều 1128

Cá Đấng Bản Quyền địa phương và những vị chủ chăn các linh hồn khác phải liệu sao để người phối ngẫu Công giáo và con cái sinh ra do hôn nhân hỗn hợp không thiếu sự trợ giúp về phương diện thiêng liêng, để họ chu toàn nghĩa vụ của mình, và các ngài phải giúp đôi phối ngẫu hiệp nhất với nhau trong đời sống vợ chồng và gia đình.

Canon 1128

Local Ordinaries and other pastors of souls are to see to it that the Catholic spouse and the children born of a mixed marriage are not without the spiritual help needed to fulfil their obligations; they are also to assist the spouses to foster the unity of conjugal and family life.

Điều 1129

Các quy định của những điều 1127 và 1128 cũng được áp dụng cho những hôn nhân mắc ngăn trở dị giáo được nói đến ở điều 1086
§1.

Canon 1129

The provisions of cann. 1127 and 1128 are to be applied also to marriages which are impeded by the impediment of disparity of worship mentioned in can. 1086
§1.

Điều 1130

Vì một lý do nghiêm trọng và khẩn cấp, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép cử hành hôn nhân cách kín đáo.

Canon 1130

For a grave and urgent reason, the local Ordinary may permit that a marriage be celebrated in secret.

Điều 1131

Phép cho cử hành hôn nhân cách kín đáo đòi buộc:1° phải kín đáo thực hiện việc điều tra trước hôn nhân;2° Đấng Bản Quyền địa phương, vị chứng hôn, các nhân chứng, đôi vợ chồng, phải giữ bí mật về hôn nhân đã được cử hành.

Canon 1131

Permission to celebrate a marriage in secret involves:1° that the investigations to be made before the marriage are carried out in secret;2° that the secret in regard to the marriage which has been celebrated is observed by the local Ordinary, by whoever assists, by the witnesses and by the spouses.

Điều 1132

Đấng Bản Quyền địa phương hết nghĩa vụ giữ bí mật được nói đến ở điều 1131, 20, nếu việc giữ bí mật có nguy cơ sinh ra gương xấu nghiêm trọng, hoặc làm tổn thương sự thánh thiện của hôn nhân cách nặng nề, và phải thông báo cho đôi bạn biết điều đó trước khi cử hành hôn nhân.

Canon 1132

The obligation of observing the secret mentioned in can. 1131 n. 2 ceases for the local Ordinary if from its observance a threat arises of grave scandal or of grave harm to the sanctity of marriage. This fact is to be made known to the parties before the celebration of the marriage.

Điều 1133

Hôn nhân đã được cử hành cách bí mật phải được ghi trong sổ riêng mà thôi và sổ này phải được lưu giữ trong văn khố mật của tòa giám mục.

Canon 1133

A marriage celebrated in secret is to be recorded only in a special register which is to be kept in the secret archive of the curia.

Điều 1134

Từ cuộc hôn nhân thành sự giữa những người phối ngẫu nẩy sinh một mối dây liên kết vĩnh viễn và độc hữu tự bản chất; ngoài ra, trong hôn nhân Kitô giáo, những người phối ngẫu được củng cố và như được thánh hiến do một bí tích đặc biệt để chu toàn nghĩa vụ và nâng cao phẩm giá bậc sống của mình.

Canon 1134

From a valid marriage there arises between the spouses a bond which of its own nature is permanent and exclusive. Moreover, in Christian marriage the spouses are by a special sacrament strengthened and, as it were, consecrated for the duties and the dignity of their state.

Điều 1135

Mỗi người phối ngẫu đều có nghĩa vụ và quyền lợi bình đẳng trong tất cả những gì liên quan đến sự hiệp thông vợ chồng.

Canon 1135

Each spouse has an equal obligation and right to whatever pertains to the partnership of conjugal life.

Điều 1136

Các bậc cha mẹ có nghĩa vụ rất nặng nề và có quyền ưu tiên chăm lo giáo dục con cái hết sức mình vừa về phương diện thể lý, xã hội và văn hóa, vừa về phương diện luân lý và tôn giáo.

Canon 1136

Parents have the most grave obligation and the primary right to do all in their power to ensure their children’s physical, social, cultural, moral and religious upbringing.

Điều 1137

Con cái được thụ thai hoặc được sinh ra do hôn nhân thành sự hay giả định đều là con cái hợp thức.

Canon 1137

Children who are conceived or born of a valid or of a putative marriage are legitimate.

Điều 1138

§1. Người cha là người được hôn nhân hợp pháp chỉ định, trừ khi có những luận chứng hiển nhiên chứng minh ngược lại.
§2. Những đứa con được sinh ra sau khi cử hành hôn nhân nhất là một trăm tám mươi ngày, hoặc trong vòng ba trăm ngày, kể từ khi đời sống vợ chồng tan vỡ, đều được coi là con cái hợp thức.

Canon 1138

§1 The father is he who is identified by a lawful marriage, unless by clear arguments the contrary is proven.
§2 Children are presumed legitimate who are born at least 180 days after the date the marriage was celebrated, or within 300 days from the date of the dissolution of conjugal life.

Điều 1139

Những đứa con bất hợp pháp được hợp thức hóa do hôn nhân sau của cha mẹ, dù là hôn nhân thành sự hay hôn nhân giả định, hoặc do phúc chiếu của Tòa Thánh.

Canon 1139

Illegitimate children are legitimated by the subsequent marriage of their parents, whether valid or putative, or by a rescript of the Holy See.

Điều 1140

Về hiệu quả theo pháp luật, con cái đã được hợp thức hóa cũng ngang hàng với con cái hợp thức trong mọi sự, trừ khi luật đã minh nhiên quy định cách khác.

Canon 1140

As far as canonical effects are concerned, legitimated children are equivalent to legitimate children in all respects, unless it is otherwise expressly provided by the law.

Điều 1141

Hôn nhân thành nhận và hòa hợp không thể được tháo gỡ do bất cứ quyền bính nhân loại nào và vì bất cứ lý do nào, trừ lý do tử vong.

Canon 1141

A marriage which is ratified and consummated cannot be dissolved by any human power or by any cause other than death.

Điều 1142

Hôn nhân bất hoà hợp giữa người đã được Rửa Tội hay giữa một người đã được Rửa Tội và một không được Rửa Tội, có thể được Đức Giáo Hoàng Rôma tháo gỡ vì một lý do chính đáng, do lời thỉnh cầu của cả hai người hoặc của một người mà thôi, mặc dầu người kia không bằng lòng.

Canon 1142

A non-consummated marriage between baptised persons or between a baptised party and an unbaptised party can be dissolved by the Roman Pontiff for a just reason, at the request of both parties or of either party, even if the other is unwilling.

Điều 1143

§1. Hôn nhân giữa hai người không chịu phép Rửa Tội được tháo gỡ nhờ đặc ân thánh Phaolô vì lợi ích đức tin của người đã được Rửa Tội do chính sự kiện người ấy tái hôn, miễn là người không được Rửa Tội chia tay người ấy.
§2. Người không chịu phép Rửa Tội được kể là chia tay, nếu không muốn sống chung với người đã được Rửa Tội hay không muốn sống chung hòa thuận mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa, trừ trường hợp sau khi chịu phép Rửa Tội, người được Rửa Tội đã gây ra nguyên nhân chính đáng để người kia chia tay.

Canon 1143

§1 In virtue of the pauline privilege, a marriage entered into by two unbaptised persons is dissolved in favour of the faith of the party who received baptism, by the very fact that a new marriage is contracted by that same party, provided the unbaptised party departs. [Regarding protocol for cases in favorem fidei see Dicastery for the Doctrine of the Faith, Letter, 24.X.2023]
§2 The unbaptised party is considered to depart if he or she is unwilling to live with the baptised party, or to live peacefully without offence to the Creator, unless the baptised party has, after the reception of baptism, given the other just cause to depart.

Điều 1144

§1. Để người được Rửa Tội tái hôn thành sự, thì luôn luôn phải chất vấn người không chịu phép Rửa tội để biết:1° người này có muốn được Rửa Tội hay không;2° ít là người này có muốn sống chung hòa thuận với người đã được Rửa Tội mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa hay không.
§2. Việc chất vấn này phải được thực hiện sau khi đương sự đã được Rửa Tội, nhưng vì một lý do quan trọng, Đấng bản Quyền địa phương có thể cho phép thực hiện việc chất vấn ấy trước khi đương sự được Rửa Tội và cũng có thể miễn chuẩn khỏi phải chất vấn hoặc trước hoặc sau khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, miễn sao thấy rõ là không thể thực hiện được việc chất vấn ấy hoặc có chất vấn cũng vô ích, qua một thủ tục ít là đơn giản và ngoài tòa án.

Canon 1144

§1 For the baptised person validly to contract a new marriage, the unbaptised party must always be interpellated whether:1° he or she also wishes to receive baptism;2° he or she at least is willing to live peacefully with the baptised party without offence to the Creator.
§2 This interpellation is to be done after baptism. However, the local Ordinary can for a grave reason permit that the interpellation be done before baptism; indeed he can dispense from it, either before or after baptism, provided it is established, by at least a summary and extrajudicial procedure, that it cannot be made or that it would be useless.

Điều 1145

§1. Theo nguyên tắc chung, quyền bính của Đấng Bản Quyền địa phương của bên đã trở lại phải thực hiện việc chất vấn ấy, Đấng Bản quyền này phải cho người phối ngẫu kia một thời hạn để trả lời nếu họ xin, nhưng phải cho họ biết rằng khi thời gian đó trôi qua vô ích, thì sự im lặng của họ được coi là một lời từ chối.
§2. Việc chất vấn, ngay cả khi chính bên trở lại làm riêng tư, cũng có giá trị và hợp pháp nữa, nếu không thể tuân giữ thể thức đã được quy định ở trên.
§3. Trong cả hai trường hợp, sự kiện chất vấn và kết quả của việc chất vấn ấy phải được xác minh cách hợp thức ở tòa ngoài.

Canon 1145

§1 As a rule, the interpellation is to be done on the authority of the local Ordinary of the converted party. A period of time for reply is to be allowed by this Ordinary to the other party, if indeed he or she asks for it, warning the person however that if the period passes without any reply, silence will be taken as a negative response.
§2 Even an interpellation made privately by the converted party is valid, and indeed it is lawful if the form prescribed above cannot be observed.
§3 In both cases there must be lawful proof in the external forum of the interpellation having been done and of its outcome.

Điều 1146

Người đã được Rửa Tội có quyền tái hôn với người Công giáo:1° nếu bên kia đã trả lời từ chối khi được chất vấn, hoặc nếu việc chất vấn đã được bỏ qua cách hợp thức;2° nếu bên không chịu phép Rửa Tội, dù đã được chất vấn hay không, ban đầu vẫn sống chung hòa thuận mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa, sau đó đã chia tay mà không có một lý do chính đáng nào, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1144 và 1145.

Canon 1146

The baptised party has the right to contract a new marriage with a Catholic:1° if the other party has replied in the negative to the interpellation, or if the interpellation has been lawfully omitted;2° if the unbaptised person, whether already interpellated or not, who at first persevered in peaceful cohabitation without offence to the Creator, has subsequently departed without just cause, without prejudice to the provisions of cann. 1144 and 1145.

Điều 1147

Tuy nhiên, vì một lý do nghiêm trọng, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép bên đã được Rửa Tội dùng đặc ân thánh Phaolô để kết hôn với bên không Công giáo đã được Rửa Tội hay không, nhưng cũng phải tuân giữ những điều mà luật đã quy định về hôn nhân hỗn hợp.

Canon 1147

However, the local Ordinary can for a grave reason allow the baptised party, using the pauline privilege, to contract marriage with a non-Catholic party, whether baptised or unbaptised; in this case, the provisions of the canons on mixed marriages must also be observed.

Điều 1148

§1. Một người đàn ông chưa chịu phép Rửa Tội đồng thời có nhiều vợ không chịu phép Rửa Tội, sau khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo, nếu khó sống với người vợ cả, thì có thể giữ lại một trong số những người vợ ấy, sau khi đã bỏ những người vợ khác. Điều trên đây cũng có giá trị đối với những người phụ nữ chưa chưa chịu phép Rửa Tội đồng thời có nhiều chồng không chịu phép Rửa Tội.
§2. Trong trường hợp được nói đến ở
§1, sau khi đã lãnh nhận bí tich Rửa Tội, hôn nhân phải được cử hành theo thể thức hợp thức, và nếu cần thì cũng phải giữ những quy định về hôn nhân hỗn hợp, cũng như những quy định khác mà luật buộc phải giữ.
§3. Lưu ý đến hoàn cảnh luân lý, xã hội, kinh tế của địa phương và của con người, Đấng Bản Quyền địa phương phải liệu sao để bảo đảm đủ cho những nhu cầu của người vợ cả và những người vợ khác đã bị bỏ, theo quy tắc của đức công bình, của đức bác ái Kitô giáo và của sự hợp tình hợp lý tự nhiên.

Canon 1148

§1 When an unbaptised man who simultaneously has a number of unbaptised wives, has received baptism in the Catholic Church, if it would be a hardship for him to remain with the first of the wives, he may retain one of them, having dismissed the others. The same applies to an unbaptised woman who simultaneously has a number of unbaptised husbands.
§2 In the cases mentioned in
§1, when baptism has been received, the marriage is to be contracted in the legal form, with due observance, if need be, of the provisions concerning mixed marriages and of other provisions of law.
§3 In the light of the moral, social and economic circumstances of place and person, the local Ordinary is to ensure that adequate provision is made, in accordance with the norms of justice, Christian charity and natural equity, for the needs of the first wife and of the others who have been dismissed.

Điều 1149

Một người chưa được Rửa Tội, sau khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo, do bị tù đày hay bị bách hại, nên không thể tái lập đời sống chung với người phối ngẫu không chịu phép Rửa Tội, thì có thể tái hôn, dù trong thời gian đó người phối ngẫu ấy đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1141.

Canon 1149

An unbaptised person who, having received baptism in the Catholic Church, cannot re-establish cohabitation with his or her unbaptised spouse by reason of captivity or persecution, can contract another marriage, even if the other party has in the meantime received baptism, without prejudice to the provisions of can. 1141.

Điều 1150

Trong trường hợp hồ nghi, đặc ân đức tin được luật ưu đãi.

Canon 1150

In a doubtful matter the privilege of the faith enjoys the favour of law.

Điều 1151

Những người phối ngẫu có bổn phận và có quyền bảo vệ đời sống chung vợ chồng, trừ khi được miễn vì một lý do hợp pháp.

Canon 1151

Spouses have the obligation and the right to maintain their common conjugal life, unless a lawful reason excuses them.

Điều 1152

§1. Mặc dầu thiết tha khuyên nhủ người phối ngẫu vì đức bác ái Kitô giáo và vì ích lợi của gia đình, đừng từ chối tha thứ cho bên ngoại tình và đừng cắt đứt đời sống chung vợ chồng, tuy nhiên, nếu họ đã không minh nhiên hay mặc nhiên tha thứ lỗi lầm cho bên kia, thì họ có quyền cắt đứt đời sống vợ chồng, trừ khi họ đã chấp nhận việc ngoại tình, hoặc họ đã gây ra nguyên nhân của tội ngoại tình, hoặc họ cũng đã phạm tội ngoại tình.
§2. Có sự tha thứ mặc nhiên, nếu sau khi biết có tội ngoại tình, người phối ngẫu vô tội vẫn tự nguyện sống chung đời vợ chồng với người phối ngẫu kia; nhưng sự tha thứ này được suy đoán, nếu người phối ngẫu vô tội vẫn sống chung vợ chồng trong sáu tháng và không nại đến nhà chức trách Giáo Hội hay chính quyền nhân sự.
§3. Nếu người phồi ngẫu vô tội tự ý cắt đứt đời sống chung vợ chồng, thì trong vòng sáu tháng phải đưa vụ án ly thân ra trước nhà chức trách Giáo Hội; sau khi đã xem xét tất cả mọi hoàn cảnh, nhà chức trách Giáo Hội phải thẩm định xem có thể làm cho người phối ngẫu vô tội tha thứ lỗi lầm và không kéo dài mãi cảnh ly thân hay không.

Canon 1152

§1 It is earnestly recommended that a spouse, motivated by Christian charity and solicitous for the good of the family, should not refuse to pardon an adulterous partner and should not sunder the conjugal life. Nevertheless, if that spouse has not either expressly or tacitly condoned the other’s fault, he or she has the right to sever the common conjugal life, provided he or she has not consented to the adultery, nor been the cause of it, nor also committed adultery.
§2 Tacit condonation occurs if the innocent spouse, after becoming aware of the adultery, has willingly engaged in a marital relationship with the other spouse; it is presumed, however, if the innocent spouse has maintained the common conjugal life for six months, and has not had recourse to ecclesiastical or to civil authority.
§3 Within six months of having spontaneously terminated the common conjugal life, the innocent spouse is to bring a case for separation to the competent ecclesiastical authority. Having examined all the circumstances, this authority is to consider whether the innocent spouse can be brought to condone the fault and not prolong the separation permanently.

Điều 1153

§1. Nếu một trong hai người phối ngẫu gây nguy hiểm nghiêm trọng về tinh thần hay thể xác cho bên kia hoặc cho con cái, hay nếu bằng cách nào khác làm cho đời sống chung trở nên nặng nề, thì bên nọ tạo cho bên kia một lý do hợp pháp để ly thân, hoặc là do một sắc lệnh của Đấng Bản Quyền địa phương, hoặc là do quyền riêng của mình, nếu có nguy cơ phải chờ đợi.
§2. Trong tất cả mọi trường hợp, khi hết lý do ly thân thì phải lập lại cuộc sống chung vợ chồng, trừ khi nhà chức trách Giáo Hội đã ấn định cách khác.

Canon 1153

§1 A spouse who occasions grave danger of soul or body to the other or to the children, or otherwise makes the common life unduly difficult, provides the other spouse with a reason to leave, either by a decree of the local Ordinary or, if there is danger in delay, even on his or her own authority.
§2 In all cases, when the reason for separation ceases, the common conjugal life is to be restored, unless otherwise provided by ecclesiastical authority.

Điều 1154

Một khi đã ly thân, những người phối ngẫu luôn luôn phải lo liệu cách thích hợp về việc chu cấp và giáo dục buộc phải có đối với con cái.

Canon 1154

When a separation of spouses has taken place, provision is always, and in good time, to be made for the due maintenance and upbringing of the children.

Điều 1155

Người phối ngẫu vô tội vẫn có thể chấp nhận cho người phối ngẫu kia trở về cuộc sống chung vợ chồng, và đó là điều đáng khen; trong trường hợp này, đương sự khước từ quyền ly thân.

Canon 1155

The innocent spouse may laudably readmit the other spouse to the conjugal life, in which case he or she renounces the right to separation.

Điều 1156

§1. Để thành sự hóa một hôn nhân bất thành do một ngăn trở tiêu hôn, thì buộc ngăn trở phải chấm dứt hoặc được miễn chuẩn, và ít là bên biết có ngăn trở phải lặp lại sự ưng thuận.
§2. Luật Giáo Hội buộc phải lặp lại sự ưng thuận ấy để việc thành sự hóa có hiệu lực, mặc dầu lúc đầu cả hai bên đã biểu lộ sự ưng thuận và sau đó đã không rút lại sự ưng thuận.

Canon 1156

§1 To validate a marriage which is invalid because of a diriment impediment, it is required that the impediment cease or be dispensed, and that at least the party aware of the impediment renews consent.
§2 This renewal is required by ecclesiastical law for the validity of the validation, even if at the beginning both parties had given consent and had not afterwards withdrawn it.

Điều 1157

Việc lặp lại sự ưng thuận, phải là một hành vi mới của ý muốn kết hôn, mà bên lặp lại sự ưng thuận ấy biết hoặc quan niệm rằng hôn nhân đã bất thành ngay từ đầu.

Canon 1157

The renewal of consent must be a new act of will consenting to a marriage which the renewing party knows or thinks was invalid from the beginning.

Điều 1158

§1. Nếu ngăn trở là công khai, cả hai bên đều phải lặp lại sự ưng thuận theo thể thức giáo luật, miễn là vẫn giữ giữ nguyên những quy định của điều 1127
§2.

Canon 1158

§1 If the impediment is public, consent is to be renewed by both parties in the canonical form, without prejudice to the provision of can. 1127
§3.
§2 If the impediment cannot be proved, it is sufficient that consent be renewed privately and in secret, specifically by the party who is aware of the impediment provided the other party persists in the consent given, or by both parties if the impediment is known to both.

Điều 1159

§1. Hôn nhân bất thành do thiếu sự ưng thuận sẽ được thành sự hóa, nếu bên trước kia đã không ưng thuận bây giờ lại ưng thuận, miễn là bên kia vẫn còn duy trì sự ưng thuận đã được biểu lộ.
§2. Nếu không thể chứng minh được là thiếu sự ưng thuận, thì chỉ cần bên trước kia đã không ưng thuận bày tỏ sự ưng thuận cách riêng tư và kín đáo.
§3. Nếu có thể chứng minh được là thiếu sự ưng thuận, thì cần phải biểu lộ sự ưng thuận theo thể thức giáo luật.

Canon 1159

§1 A marriage invalid because of a defect of consent is validated if the party who did not consent, now does consent, provided the consent given by the other party persists.
§2 If the defect of the consent cannot be proven, it is sufficient that the party who did not consent, gives consent privately and in secret.
§3 If the defect of consent can be proven, it is necessary that consent be given in the canonical form.

Điều 1160

Để được thành sự hóa, hôn nhân bất thành do thiếu thể thức phải được kết ước lại theo thể thức giáo luật, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1127
§2.

Canon 1160

For a marriage which is invalid because of defect of form to become valid, it must be contracted anew in the canonical form, without prejudice to the provisions of can. 1127
§2.

Điều 1161

§1. Điều trị tại căn một hôn nhân bất thành là việc thành sự hóa hôn nhân ấy mà không buộc phải lập lại sự ưng thuận, do nhà chức trách có thẩm quyền ban, bao hàm việc miễn chuẩn một ngăn trở, nếu có, và thể thức giáo luật, nếu đã không được tuân giữ, cũng như sự hồi tố của những hiệu quả giáo luật.
§2. Việc điều trị tại căn được thực hiện từ lúc ban ân huệ; nhưng việc hồi tố được hiểu là có hiệu lực từ lúc hôn nhân được cử hành, trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác.
§3. Không được ban việc điều trị tại căn, nếu không biết chắc là đôi bên muốn duy trì đời sống vợ chồng.

Canon 1161

§1 The retroactive validation of an invalid marriage is its validation without the renewal of consent, granted by the competent authority. It involves a dispensation from an impediment if there is one and from the canonical form if it had not been observed, as well as a referral back to the past of the canonical effects.
§2 The validation takes place from the moment the favour is granted; the referral back, however, is understood to have been made to the moment the marriage was celebrated, unless it is otherwise expressly provided.
§3 A retroactive validation is not to be granted unless it is probable that the parties intend to persevere in conjugal life. [See the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 18615/2025, 17.VII.2025, which clarifies that a sanatio in radice can be granted after careful discernment without presuming invalidity simply because the marriage was civil, provided the original consent persists and the conditions for validity are met. The diocesan bishop may grant this favour for marriages invalid on account of lack of canonical form, assessing freedom from impediments and ongoing consent on a case-by-case basis]

Điều 1162

§1. Hôn nhân không thể được điều trị tại căn, nếu thiếu sự ưng thuận của cả hai bên hay của cả hai bên hay của một trong hai bên, hoặc là thiếu sự ưng thuận ngay từ đầu, hoặc là lúc đầu thì ưng thuận nhưng về sau đã rút lại.
§2. Tuy nhiên, nếu lúc đầu thiếu sự ưng thuận, nhưng về sau sự ưng thuận đã được biểu lộ, thì có thể ban việc điều trị tại căn từ lúc biểu lộ sự ưng thuận.

Canon 1162

§1 If consent is lacking in either or both of the parties, a marriage cannot be rectified by a retroactive validation, whether consent was absent from the beginning or, though given at the beginning, was subsequently revoked.
§2 If the consent was indeed absent from the beginning but was subsequently given, a retroactive validation can be granted from the moment the consent was given.

Điều 1163

§1. Hôn nhân bất thành do mắc ngăn trở hay do thiếu thể thức hợp thức có thể được điều trị tại căn, miễn là đôi bên vẫn còn duy trì sự ưng thuận.
§2. Hôn nhân bất thành do mắc ngăn trở thuộc luật tự nhiên hoặc thuộc luật thiết định của Thiên Chúa chỉ có thể được điều trị tại căn sau khi đã hết ngăn trở.

Canon 1163

§1 A marriage which is invalid because of an impediment or because of defect of the legal form, can be validated retroactively, provided the consent of both parties persists.
§2 A marriage which is invalid because of an impediment of the natural law or of the divine positive law, can be validated retroactively only after the impediment has ceased.

Điều 1164

Việc điều trị tại căn có thể được ban thành sự ngay cả khi hai bên hoặc một bên không biết, nhưng chỉ được ban vì một lý do nghiêm trọng.

Canon 1164

A retroactive validation may validly be granted even if one or both of the parties is unaware of it; it is not, however, to be granted except for a grave reason.

Điều 1165

§1. Tông Tòa có thể ban việc điều trị tại căn.
§2. Giám Mục giáo phận có thể ban việc điều trị tại căn trong từng trường hợp, ngay cả khi có nhiều lý do bất thành trong cùng một hôn nhân, khi đã hội đủ các điều kiện được nói đến ở điều 1125 đối với việc điều trị tại căn của hôn nhân hỗn hợp; nhưng Giám Mục giáo phận không thể ban việc điều trị tại căn, nếu có một ngăn trở mà Tông Tòa dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn chiếu theo quy tắc của điều 1078
§2, hoặc nếu có một ngăn trở thuộc luật tự nhiên hoặc thuộc luật thiết định của Thiên Chúa, mặc dầu ngăn trở ấy đã chấn dứt.

Canon 1165

§1 Retroactive validation can be granted by the Apostolic See.
§2 It can be granted by the diocesan Bishop in individual cases, even if a number of reasons for nullity occur together in the same marriage, assuming that for a retroactive validation of a mixed marriage the conditions of can. 1125 will have been fulfilled. It cannot, however, be granted by him if there is an impediment whose dispensation is reserved to the Apostolic See in accordance with can. 1078
§2, or if there is question of an impediment of the natural law or of the divine positive law which has now ceased. [On the question of retroactive validation of a mixed marriage, see the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 15814/2017, 24.IV.2017] [On the question of retroactive validation of a marriage between a Catholic and a non-baptised person, see the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 15891/2017, 22.V.2017] [On the question of retroactive validation of a marriage between two Catholics which lacks canonical form, see the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 16601/2019, 18.III.2019, and the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 18121/2023, 17.XI.2023]

×

Mục Lục Giáo Luật

×

Nhảy đến Điều

Danh sách các Điều có trong mục này:

Vericath App

Cài đặt Vericath

Truy cập nhanh chóng và trải nghiệm mượt mà hơn trên màn hình chính của bạn.

Home