PHẦN I. CÁC BÍ TÍCH (Điều 840-1165)

Điều 840

Các bí tích của Giao Ước mới, được Đức Kitô thiết lập và được ủy thác cho Giáo Hội, xét như là những hành động của Đức Kitô và của Giáo Hội, là những dấu chỉ và phương thế biểu lộ và củng cố đức tin, cử hành việc thờ phượng Thiên Chúa và thực hiện việc thánh hóa loài người, vì thế, các bí tích góp phần rất nhiều vào việc xây dựng, củng cố và biểu lộ sự hiệp thông của Giáo Hội; do đó, các thừa tác viên có chức thánh cũng như các Kitô hữu khác phải cử hành các bí tích với tất cả lòng kính cẩn và sự chăm chú cần thiết.

Canon 840

The sacraments of the New Testament were instituted by Christ the Lord and entrusted to the Church. As actions of Christ and of the Church, they are signs and means by which faith is expressed and strengthened, worship is offered to God and our sanctification is brought about. Thus they contribute in the most effective manner to establishing, strengthening and manifesting ecclesiastical communion. Accordingly, in the celebration of the sacraments both the sacred ministers and all the other members of Christ’s faithful must show great reverence and due care.

Điều 841

Vì các bí tích là như nhau đối với Giáo Hội toàn cầu và thuộc về kho tàng của Thiên Chúa, cho nên chỉ quyền bính tối cao của Giáo hội phê chuẩn hoặc xác định những điều cần thiết cho tính thành sự của các bí tích; và chính quyền bính tối cao này hoặc bất cứ một nhà chức trách có thẩm quyền nào khác, chiếu theo quy tắc của điếu 838 §
§3 và 4, ấn định những điều cần thiết cho tính hợp thức của việc cử hành, ban và lãnh nhận các bí tích, cũng như những điều cần thiết cho nghi thức phải giữ trong lúc cử hành.

Canon 841

Since the sacraments are the same throughout the universal Church, and belong to the divine deposit of faith, only the supreme authority in the Church can approve or define what is needed for their validity. It belongs to the same authority, or to another competent authority in accordance with can. 838 §
§3 and 4, to determine what is required for their lawful celebration, administration and reception and for the order to be observed in their celebration.

Điều 842

§1. Người nào không nhận bí tích Rửa Tội thì không thể lãnh nhận cách thành sự các bí tích khác.
§2. Các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể liên kết chặt chẽ với nhau đến nỗi tất cả đều cần thiết cho việc khai tâm Kitô giáo được đầy đủ.

Canon 842

§1 A person who has not received baptism cannot validly be admitted to the other sacraments.
§2 The sacraments of baptism, confirmation and the blessed Eucharist so complement one another that all three are required for full Christian initiation.

Điều 843

§1. Các thừa tác viên có chức thánh không thể từ chối ban các bí tích cho những người xin lãnh nhận các bí tích cách thích đáng, đã được chuẩn bị đầy đủ và không bị luật cấm lãnh nhận các bí tích.
§2. Các vị chủ chăn các linh hồn và các Kitô hữu khác, mỗi người tùy theo nhiệm vụ của mình trong Giáo Hội, có bổn phận phải liệu sao cho những người xin lãnh nhận các bí tích được chuẩn bị bằng việc loan báo Tin Mừng cách thích hợp và bằng việc huấn giáo tương xứng để lãnh nhận các bí tích ấy, và phải lưu ý đến những quy tắc do nhà chức trách có thẩm quyền ban hành.

Canon 843

§1 Sacred ministers may not deny the sacraments to those who opportunely ask for them, are properly disposed and are not prohibited by law from receiving them.
§2 According to their respective offices in the Church, both pastors of souls and all other members of Christ’s faithful have a duty to ensure that those who ask for the sacraments are prepared for their reception. This should be done through proper evangelisation and catechetical instruction, in accordance with the norms laid down by the competent authority.

Điều 844

§1. Những thừa tác viên Công giáo chỉ ban bí tích cách hợp thức cho các Kitô hữu Công giáo mà thôi, cũng vậy, các Kitô hữu này chỉ lãnh nhận cách hợp thức các bí tích do những thừa tác viên Công giáo ban mà thôi, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của §
§2, 3 và 4 của điều này và của điều 861
§2.
§2. Mỗi khi nhu cầu đòi hỏi hoặc hoặc khi có một lợi ích thiêng liêng thật sự, và với điều kiện là tránh được nguy cơ lầm lẫn hoặc tương đối tôn giáo, những Kitô hữu đang ở trong tình trạng bất khả thể lý hoặc luân lý không thể đến với một thừa tác viên Công giáo, thì được phép lãnh nhận các bí tích Sám Hối, Thánh Thể và Xức Dầu Bệnh Nhân từ những thừa tác viên không Công giáo, nếu các bí tích ấy được cách thành sự trong Giáo Hội của các vị đó.
§3. Các thừa tác viên Công giáo ban cách hợp thức các bí tích Sám Hối, Thánh Thể và Xức Dầu Bệnh Nhân cho những thành của các Giáo Hội Đông Phương không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo, nếu họ tự ý xin điều đó và nếu họ đã được chuẩn bị đầy đủ; điều này cũng có giá trị, trong những gì liên quan đến các bí tích, đối với những thành viên của các Giáo Hội khác đang ở trong cùng một tình trạng như Giáo Hội Đông Phương nói trên, theo sự nhận định của Tông Tòa.
§4. Trong trường hợp nguy tử hoặc nếu, theo sự nhận định của Giám Mục giáo phận hay của Hội đồng Giám Mục, có một nhu cầu quan trọng khác thúc bách, các thừa tác viên Công giáo có thể ban cách hợp thức các bí tích trên cho cả những Kitô hữu khác không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo, khi họ không thể đến được với một thừa tác viên của cộng đoàn mình và khi họ tự ý xin điều đó, miễn là họ biểu lộ đức tin Công giáo về các bí tích ấy, và miễn là họ đã được chuẩn bị đầy đủ.
§5. Trong những trường hợp được nói đến ở các §
§2, 3 và 4, Giám Mục giáo phận hay Hội Đồng Giám Mục không được ban hành những quy tắc tổng quát, trừ khi đã tham khảo ý kiến của nhà chức trách có thẩm quyền ít là cấp địa phương của Giáo Hội và của cộng đoàn không Công giáo liên hệ.

Canon 844

§1 Catholic ministers may lawfully administer the sacraments only to Catholic members of Christ’s faithful, who equally may lawfully receive them only from Catholic ministers, except as provided in §
§2, 3 and 4 of this canon and in can. 861
§2.
§2 Whenever necessity requires or a genuine spiritual advantage commends it, and provided the danger of error or indifferentism is avoided, Christ’s faithful for whom it is physically or morally impossible to approach a Catholic minister, may lawfully receive the sacraments of penance, the Eucharist and anointing of the sick from non-Catholic ministers in whose Churches these sacraments are valid.
§3 Catholic ministers may lawfully administer the sacraments of penance, the Eucharist and anointing of the sick to members of the eastern Churches not in full communion with the Catholic Church, if they spontaneously ask for them and are properly disposed. The same applies to members of other Churches which the Apostolic See judges to be in the same position as the aforesaid eastern Churches so far as the sacraments are concerned.
§4 If there is a danger of death or if, in the judgement of the diocesan Bishop or of the Episcopal Conference, there is some other grave and pressing need, Catholic ministers may lawfully administer these same sacraments to other Christians not in full communion with the Catholic Church, who cannot approach a minister of their own community and who spontaneously ask for them, provided that they demonstrate the Catholic faith in respect of these sacraments and are properly disposed.
§5 In respect of the cases dealt with in §
§2, 3 and 4, the diocesan Bishop or the Episcopal Conference is not to issue general norms except after consultation with the competent authority, at least at the local level, of the non-Catholic Church or community concerned.

Điều 845

§1. Vì các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Truyền Chức Thánh ghi một ấn tích, nên không thể được nhận lại lần nữa.
§2. Sau khi đã điều tra cẩn thận, nếu vẫn còn một lý do hồ nghi về việc lãnh nhận thật sự hoặc về tính thành sự của các bí tích được nói đến ở
§1, thì phải ban các bí tích ấy với điều kiện.

Canon 845

§1 Because they imprint a character, the sacraments of baptism, confirmation and order cannot be repeated.
§2 If after diligent enquiry a prudent doubt remains as to whether the sacraments mentioned in
§1 have been conferred at all, or conferred validly, they are to be conferred conditionally.

Điều 846

§1. Khi cử hành các bí tích, phải trung thành tuân theo các sách phụng vụ đã được nhà chức trách có thẩm quyền phê chuẩn, vì thế, không ai được tự ý thêm, bớt hoặc sửa đổi điều gì trong các sách ấy.
§2. Thừa tác viên phải cử hành các bí tích theo lễ điển riêng của mình.

Canon 846

§1 The liturgical books, approved by the competent authority, are to be faithfully followed in the celebration of the sacraments. Accordingly, no one may on a personal initiative add to or omit or alter anything in those books.
§2 The ministers are to celebrate the sacraments according to their own rite.

Điều 847

§1. Khi ban những bí tích đòi buộc phải sử dụng dầu thánh, thừa tác viên phải sử dụng dầu ôliu hoặc dầu thực vật khác mới được Giám Mục thánh hiến hoặc làm phép, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 999, 20; thừa tác viên không được dùng dầu cũ, trừ trường hợp khẩn cấp.
§2. Cha sở phải xin các loại dầu thánh nơi Giám Mục của mình và phải bảo quản cẩn thận trong một chỗ xứng đáng.

Canon 847

§1 In administering sacraments in which holy oils are to be used, the minister must use oil made from olives or other plants, which, except as provided in can. 999, n. 2, has recently been consecrated or blessed by a Bishop. Older oil is not to be used except in a case of necessity.
§2 The parish priest is to obtain the holy oils from his own Bishop and keep them carefully in fitting custody.

Điều 848

Ngoài những của dâng cúng do nhà chức trách có thẩm quyền ấn định, thừa tác viên không được xin gì để ban các bí tích, và luôn luôn phải liệu sao đừng để những người nghèo không được hưởng nhờ ơn các bí tích vì sự túng thiếu của mình.

Canon 848

For the administration of the sacraments the minister may not ask for anything beyond the offerings which are determined by the competent authority, and he must always ensure that the needy are not deprived of the help of the sacraments by reason of poverty.

Điều 849

Bí tích Rửa Tội là cửa dẫn vào các bí tích, cần thiết ơn cứu rỗi và phải được lãnh nhận thật sự hoặc ít là trong ước muốn, nhờ bí tích này, con người được giải thoát khỏi tội lỗi, được tái sinh làm con Thiên Chúa, được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô nhờ một ấn tích không thể xóa nhòa và được sáp nhập vào Giáo Hội, bí tích này chỉ được ban thành sự khi được rửa bằng nước thiên nhiên cùng với mô thể cần thiết.

Canon 849

Baptism, the gateway to the sacraments, is necessary for salvation, either by actual reception or at least by desire. By it people are freed from sins, are born again as children of God and, made like to Christ by an indelible character, are incorporated into the Church. It is validly conferred only by a washing in real water with the proper form of words. [On the relationship between faith and the sacrament of baptism see International Theological Commission, The Reciprocity between Faith and Sacraments in the Sacramental Economy (2020), nos. 81-94]

Điều 850

Bí tích Rửa Tội được ban theo nghi thức được quy định trong các sách phụng vụ đã được phê chuẩn, trừ trường hợp có nhu cầu khẩn cấp, khi đó chỉ phải giữ những gì đòi buộc để bí tích được thành sự.

Canon 850

Baptism is administered according to the rite prescribed in the approved liturgical books, except in a case of urgent necessity when only those elements which are required for the validity of the sacrament must be observed. [Baptism conferred by the Mormons (“The Church of Jesus Christ of Latter-Day Saints”) is invalid: since the Father, the Son, and the Holy Spirit are, for them, something essentially different from what the Church professes, the baptism administered by them – although conferred with the same Trinitarian formula – is vitiated by an error in fide that redounds to the intention of the minister: see Dicastery for the Doctrine of the Faith, Note Gestis verbisque, 25.I.2024, footnote 39; Response of the Congregation for the Doctrine of the Faith of 5.VI.2001] [A Response of the Congregation for the Doctrine of the Faith of 24.VI.2020 establishes the invalidity of baptism conferred in the plural form (“We baptise you…”) and the need to administer it in forma absoluta to those who may have received it that way]

Điều 851

Việc cử hành bí tích Rửa Tội phải được chuẩn bị cách xứng hợp, bởi thế:1° người thành niên muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội, phải được nhận vào khóa dự tòng và, tùy mức độ có thể, phải được hướng dẫn vào việc khai tâm về bí tích qua nhiều giai đoạn khác nhau, theo nghi thức khai tâm đã được Hội Đồng Giám Mục thích nghi và theo những quy tắc riêng do Hội Đồng Giám Mục ban hành;2° cha mẹ nhi đồng sắp được Rửa Tội, cũng như những người sắp đảm nhận nhiệm vụ đỡ đầu, phải được giáo huấn cách xứng hợp về ý nghĩa của bí tích này và về những nghĩa vụ gắn liền với bí tích; khi tập hợp nhiều gia đình lại, và khi đi thăm họ, ở đâu có thể, cha sở, tự mình hoặc nhờ người khác, phải liệu sao để các bậc cha mẹ được chuẩn bị cách xứng hợp bằng những bài huấn dụ mục vụ, hơn nữa còn bằng việc cầu nguyện chung.

Canon 851

The celebration of baptism should be properly prepared. Accordingly:1° an adult who intends to receive baptism is to be admitted to the catechumenate and, as far as possible, brought through the various stages to sacramental initiation, in accordance with the rite of initiation as adapted by the Episcopal Conference and with the particular norms issued by it;2° the parents of a child who is to be baptised, and those who are to undertake the office of sponsors, are to be suitably instructed on the meaning of this sacrament and the obligations attaching to it. The parish priest is to see to it that either he or others duly prepare the parents, by means of pastoral advice and indeed by prayer together; a number of families might be brought together for this purpose and, where possible, each family visited.

Điều 852

§1. Những gì đã được quy định trong những điều về bí tích Rửa Tội cho người thành niên cũng được áp dụng cho tất cả mọi người quá tuổi nhi đồng đã biết sử dụng trí khôn.
§2. Người nào không làm chủ được mình thì được đồng hóa với nhi đồng, cả trong vấn đề liên quan đến bí tích Rửa Tội.

Canon 852

§1 The provisions of the canons on adult baptism apply to all those who, being no longer infants, have reached the use of reason.
§2 One who is incapable of personal responsibility is regarded as an infant even in regard to baptism.

Điều 853

Ngoài trường hợp cần thiết, nước dùng để ban bí tích Rửa Tội phải được làm phép theo những quy định của các sách phụng vụ.

Canon 853

Apart from a case of necessity, the water to be used in conferring baptism is to be blessed, in accordance with the provisions of the liturgical books.

Điều 854

Phải ban bí tích Rửa Tội hoặc bằng cách dìm xuống nước, hoặc bằng cách đổ nước, nhưng phải tuân giữ các quy định của Hội đồng Giám Mục.

Canon 854

Baptism is to be conferred either by immersion or by pouring, in accordance with the provisions of the Episcopal Conference.

Điều 855

Cha mẹ, những người đỡ đầu và cha sở phải liệu sao để đừng đặt tên xa lạ với ý nghĩa Kitô giáo.

Canon 855

Parents, sponsors and parish priests are to take care that a name is not given which is foreign to Christian sentiment.

Điều 856

Mặc dù có thể cử hành bí tích Rửa Tội vào bất cứ ngày nào cũng được, nhưng thông thường; khuyên nên cử hành bí tích này vào ngày Chúa Nhật hoặc nếu có thể được, vào đêm vọng Phục Sinh.

Canon 856

Though baptism may be celebrated on any day, it is recommended that normally it be celebrated on a Sunday or, if possible, on the vigil of Easter.

Điều 857

§1. Ngoài trường hợp cần thiết, nơi dành riêng để ban bí tích Rửa Tội là nhà thờ hoặc nhà nguyện.
§2. Theo luật chung, phải ban bí tích rửa Tội cho người thành niên tại nhà thờ riêng của giáo xứ của họ và cho nhi đồng tại nhà thờ giáo xứ của cha mẹ chúng, trừ khi có một lý do chính đáng khuyên làm cách khác.

Canon 857

§1 Apart from a case of necessity, the proper place for baptism is a church or an oratory.
§2 As a rule and unless a just reason suggests otherwise, an adult is to be baptised in his or her proper parish church, and an infant in the proper parish church of the parents.

Điều 858

§1. Tất cả mọi nhà thờ giáo xứ phải có giếng Rửa Tội, miễn là vẫn giữ nguyên quyền có giếng Rửa Tội mà các nhà thờ khác đã thủ đắc.
§2. Để tiện lợi cho tín hữu, sau khi đã tham khảo ý kiến của cha sở, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép hoặc truyền lệnh làm giếng Rửa Tội cả trong một nhà thờ hoặc một nhà nguyện khác nằm trong ranh giới của giáo xứ.

Canon 858

§1 Each parish church is to have a baptismal font, without prejudice to the same right already acquired by other churches.
§2 The local Ordinary, after consultation with the local parish priest, may for the convenience of the faithful permit or order that a baptismal font be placed also in another church or oratory within the parish.

Điều 859

Nếu người sắp được Rửa Tội, vì ở xa hoặc vì những hoàn cảnh khác, không thể đến hoặc không thể được đưa đến nhà thờ giáo xứ hoặc nhà thờ hay nhà nguyện khác được nói đến ở điều 858
§2 mà không có sự bất tiện lớn, thì có thể và phải lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong một nhà thờ hay một nhà nguyện khác gần hơn, hoặc tại một nơi khác xứng đáng.

Canon 859

If, because of distance or other circumstances, the person to be baptised cannot without grave inconvenience go or be brought to the parish church or the oratory mentioned in can. 858
§2, baptism may and must be conferred in some other church or oratory which is nearer, or even in some other fitting place.

Điều 860

§1. Ngoài trường hợp cần thiết, không được ban bí tích Rửa Tội tại tư gia, trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương cho phép vì một lý do quan trọng.
§2. Nếu Giám Mục giáo phận không ấn định cách khác, không được cử hành bí tích Rửa Tội tại các bệnh viện, trừ trường hợp cần thiết hay vì một lý do mục vụ khác đòi buộc.

Canon 860

§1 Apart from a case of necessity, baptism is not to be conferred in private houses, unless the local Ordinary should for a grave reason permit it.
§2 Unless the diocesan Bishop has decreed otherwise, baptism is not to be conferred in hospital, except in a case of necessity or for some other pressing pastoral reason.

Điều 861

§1. Thừa tác viên thông thường của bí tích Rửa Tội là Giám Mục, linh mục và phó tế, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 530, 10.
§2. Nếu thừa tác viên thông thường vắng mặt hay bị ngăn trở, thì một giáo lý viên hay một người khác được Đấng Bản Quyền địa phương ủy thác làm nhiệm vụ này, hơn nữa trong trường hợp cần thiết, bất cứ người nào với ý hướng cần có, đều ban bí tích Rửa Tội cách hợp thức; các vị chủ chăn các linh hồn, nhất là các cha sở, phải liệu sao để dạy cho các Kitô hữu biết Rửa Tội đúng cách.

Canon 861

§1 The ordinary minister of baptism is a Bishop, a priest or a deacon, without prejudice to the provision of can. 530, n. 1.
§2 If the ordinary minister is absent or impeded, a catechist or some other person deputed to this office by the local Ordinary, may lawfully confer baptism; indeed, in a case of necessity, any person who has the requisite intention may do so. Pastors of souls, especially parish priests, are to be diligent in ensuring that Christ’s faithful are taught the correct way to baptise.

Điều 862

Trừ trường hợp cần thiết, nếu không được phép buộc phải có, không ai có thể ban bí tích Rửa Tội trong một địa hạt khác, dù là ban cho những người thuộc quyền mình.

Canon 862

Except in a case of necessity, it is unlawful for anyone without due permission to confer baptism outside his own territory, not even upon his own subjects.

Điều 863

Việc ban bí tích Rửa Tội cho người thành niên ít là cho những người đã được trọn mười bốn tuổi, nên được trình lên Giám Mục giáo phận, để chính ngài đích thân ban bí tích này, nếu ngài xét thấy điều đó thuận lợi.

Canon 863

The baptism of adults, at least of those who have completed their fourteenth year, is to be referred to the Bishop, so that he himself may confer it if he judges this appropriate.

Điều 864

Tất cả và chỉ những người chưa được Rửa Tội mới có khả năng lãnh nhận bí tích Rửa Tội.

Canon 864

Every unbaptised person, and only such a person, can be baptised. [On whether a transsexual person may be baptised see Dicastery for the Doctrine of the Faith, Answers to several questions, 31.X.2023, no. 1]

Điều 865

§1. Để có thể được Rửa Tội, người thành niên phải bày tỏ ý muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội, phải được dạy dỗ đủ về những chân lý đức tin và những nghĩa vụ Kitô giáo và phải được thử luyện sống đời Kitô hữu qua thời gian dự tòng; họ cũng được khuyên nhủ ăn năn tội lỗi của mình.
§2. Trong trường hợp nguy tử, người thành niên có thể được Rửa Tội, nếu sau khi đã có một vài nhận thức về những chân lý chính yếu của đức tin, họ tỏ ý muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội bằng bất cứ cách nào, và hứa sẽ tuân giữ các giới răn của Kitô giáo.

Canon 865

§1 To be admitted to baptism, an adult must have manifested the intention to receive baptism, must be adequately instructed in the truths of the faith and in the duties of a Christian, and tested in the Christian life over the course of the catechumenate. The person must moreover be urged to have sorrow for personal sins.
§2 An adult in danger of death may be baptised if, with some knowledge of the principal truths of the faith, he or she has in some manner manifested the intention to receive baptism and promises to observe the requirements of the Christian religion.

Điều 866

Trừ khi có một ngăn trở nghiêm trọng, người thành niên nào được Rửa Tội thì cũng lãnh nhận bí tích Thêm Sức ngay sau bí tích Rửa Tội, tham dự Thánh Lễ, cũng như rước lễ.

Canon 866

Unless there is a grave reason to the contrary, immediately after receiving baptism an adult is to be confirmed, to participate in the celebration of the Eucharist and to receive holy communion.

Điều 867

§1. Các bậc cha mẹ phải lo cho con cái mình được Rửa Tội trong vòng những tuần lễ đầu tiên; vào dịp việc sớm sau khi sinh và ngay cả trước khi sinh, họ phải đến gặp cha sở để xin ngài ban bí tích cho con mình và để được chuẩn bị kỹ luỡng về bí tích ấy.
§2. Nếu nhi đồng đang lâm cơn nguy tử, thì được Rửa Tội ngay không chút trì hoãn.

Canon 867

§1 Parents are obliged to see that their infants are baptised within the first few weeks. As soon as possible after the birth, indeed even before it, they are to approach the parish priest to ask for the sacrament for their child, and to be themselves duly prepared for it.
§2 If the infant is in danger of death, it is to be baptised without any delay.

Điều 868

§1. Để Rửa Tội một nhi đồng cách hợp thức, thì phải;1° có sự chấp thuận của cha mẹ, hay ít của một trong hai người, hoặc của người thay quyền họ cách hợp pháp. 20 có một niềm hy vọng chắc chắn là em sẽ được giáo dục trong đạo Công giáo; nếu hoàn toàn thiếu niềm hy vọng này, thì phải hoãn ban bí tích Rửa Tội, chiếu theo những quy định của luật địa phương, sau khi đã thông báo cho cha mẹ biết lý do.
§2. Trong cơn nguy tử, nhi đồng của cha mẹ Công giáo đều được Rửa Tội cách hợp thức, dù trái với ý muốn của cha mẹ.

Canon 868

§1 For an infant to be baptised lawfully it is required:1° that the parents, or at least one of them, or the person who lawfully holds their place, give their consent; [A Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 18370/2024, 13.XII.2024, deals with situations in which the parents are not in agreement regarding the baptism of the child]2° there must be a founded hope that the infant will be brought up in the Catholic religion subject to
§3; if such hope is altogether lacking, the baptism is to be delayed according to the prescripts of particular law after the parents have been informed of the reason. [Revised wording according to m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016] [On whether two homosexual persons may be regarded as the parents of a child who is to be baptised, and who was adopted or was received by other means, such as surrogacy, see Dicastery for the Doctrine of the Faith, Answers to several questions, 31.X.2023, no. 4]
§2 An infant of Catholic parents, indeed even of non-Catholic parents, may in danger of death be baptised even if the parents are opposed to it.
§3 Infants of non-Catholic Christians are licitly baptized if their parents or at least one of them or the person who legitimately takes their place request it and if it is physically or morally impossible for them to approach their own minister. [New paragraph added by m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016]

Điều 869

§1. Nếu hồ nghi một người đã được Rửa Tội hay chưa, hoặc bí tích Rửa Tội được ban cho người đó có thành sự hay không, và nếu vẫn còn hồ nghi sau khi đã điều tra cặn kẽ, thì phải ban bí tích Rửa Tội cho họ với điều kiện.
§2. Những người đã được Rửa Tội trong một cộng đoàn Giáo Hội không Công giáo, thì không được RửaTội với điều kiện, trừ khi có một lý do nghiêm chỉnh để hồ nghi về tính thành sự của bí tích Rửa Tội, sau khi đã điều tra về chất thể và mô thể đã được dùng khi ban bí tích, cũng như về ý muốn của người thành niên được Rửa Tội và của thừa tác viên ban bí tích Rửa Tội.
§3. Nếu trong những trường hợp được nói đến ở §
§1 và 2 vẫn còn hồ nghi về việc ban hoặc về tính thành sự của bí tích Rửa Tội, thì chỉ được ban bí tích Rửa, sau khi đã trình bày đạo lý về bí tích Rửa Tội cho người lãnh nhận bí tích Rửa Tội, và sau khi đã cho chính đương sự, nếu là người thành niên, hoặc cho cha mẹ của đương sự nếu là nhi đồng, biết những lý do hồ nghi về tính thành sự của bí tích đã được cử hành trước đây.

Canon 869

§1 If there is doubt as to whether a person was baptised or whether a baptism was conferred validly, and after serious enquiry this doubt persists, the person is to be baptised conditionally.
§2 Those baptised in a non-Catholic ecclesial community are not to be baptised conditionally unless there is a serious reason for doubting the validity of their baptism, on the ground of the matter or the form of words used in the baptism, or of the intention of the adult being baptised or of that of the baptising minister.
§3 If in the cases mentioned in §
§1 and 2 a doubt remains about the conferring of the baptism or its validity, baptism is not to be conferred until the doctrine of the sacrament of baptism is explained to the person to be baptised, if that person is an adult. Moreover, the reasons for doubting the validity of the earlier baptism should be given to the person or, where an infant is concerned, to the parents.

Điều 870

Phải ban bí tích Rửa Tội cho nhi đồng bị bỏ rơi hoặc vô thừa nhận, trừ khi việc điều tra cẩn thận cho biết em đã được Rửa Tội rồi.

Canon 870

An abandoned infant or a foundling is to be baptised unless diligent enquiry establishes that it has already been baptised.

Điều 871

Trong mức độ có thể, phải Rửa Tội cho những thai nhi bị sẩy, nếu chúng còn sống.

Canon 871

Aborted foetuses, if they are alive, are to be baptised, in so far as this is possible.

Điều 872

Trong mức độ có thể, người sắp lãnh nhận bí tích Rửa Tội phải có một người đỡ đầu. Người này giúp người thành niên sắp lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong việc khai tâm Kitô giáo; còn đối với nhi đồng sắp được Rửa Tội, thì người đỡ đầu cùng với cha mẹ đưa em đến chịu phép Rửa Tội và liệu sao cho em sau này sống một đời Kitô giáo xứng hợp với bí tích Rửa Tội và trung thành chu toàn những nghĩa vụ gắn liền với bí tích.

Canon 872

In so far as possible, a person being baptised is to be assigned a sponsor. In the case of an adult baptism, the sponsor’s role is to assist the person in Christian initiation. In the case of an infant baptism, the role is together with the parents to present the child for baptism, and to help it to live a Christian life befitting the baptised and faithfully to fulfil the duties inherent in baptism.

Điều 873

Phải nhận một cha đỡ đầu hoặc một mẹ đỡ đầu mà thôi, hoặc là cả cha và mẹ đỡ đầu.

Canon 873

One sponsor, male or female, is sufficient; but there may be two, one of each sex.

Điều 874

§1. Để được chấp nhận giữ nhiệm vụ đỡ đầu, người đỡ đầu phải:1° do chính người sắp được Rửa Tội chọn hay do cha mẹ hay những người thay quyền cha mẹ chọn, hoặc thiếu những người ấy, thì do cha sở hay do thừa tác viên chọn, và phải có khả năng và ý muốn đảm nhận nhiệm vụ này;2° đủ mười sáu tuổi trọn, trừ khi Giám Mục giáo phận đã ấn định một mức tuổi khác, hoặc trừ khi cha sở hay hừa tác viên xét thấy phải chấp nhận, vì một lý do ngoại lệ;3° là người Công giáo đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức, và bí tích Thánh Thể, và phải có đời sống xứng hợp với đời sống đức tin và nhiệm vụ phải đảm nhận;4° không mắc một hình phạt của giáo luật đã được tuyên kết hay tuyên bố cách hợp pháp;5° không là cha hoặc mẹ của người được Rửa Tội.
§2. Một người đã được Rửa Tội thuộc một cộng đoàn của Giáo Hội không Công giáo chỉ được chấp nhận như là nhân chứng của bí tích Rửa Tội cùng với một người đỡ đầu Công giáo.

Canon 874

§1 To be admitted to undertake the office of sponsor, a person must:1° be appointed by the candidate for baptism, or by the parents or whoever stands in their place, or failing these, by the parish priest or the minister; to be appointed the person must be suitable for this role and have the intention of fulfilling it;2° be not less than sixteen years of age, unless a different age has been stipulated by the diocesan Bishop, or unless the parish priest or the minister considers that there is a just reason for an exception to be made;3° be a Catholic who has been confirmed and has received the blessed Eucharist, and who lives a life of faith which befits the role to be undertaken; [On whether a transgender person or a homosexual who is cohabiting may be a godparent see Dicastery for the Doctrine of the Faith, Answers to several questions, 31.X.2023, nos. 2 and 5]4° not labour under a canonical penalty, whether imposed or declared;5° not be either the father or the mother of the person to be baptised.
§2 A baptised person who belongs to a non-Catholic ecclesial community may be admitted only in company with a Catholic sponsor, and then simply as a witness to the baptism. [See the 1993 Directory for Promoting Christian Unity, no. 98 b), allowing an Orthodox godparent if there is a just cause] [Regarding the admission of two non-Catholics as witnesses to baptism, see the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 15986/2017, 15.XI.2017] [See the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 17683/2022, 20.VI.2022, on changing a sponsor who has been found guilty of a grave crime and imprisoned]

Điều 875

Người nào ban bí tích Rửa Tội, thì phải liệu sao cho có được ít là một người làm chứng, để có thể chứng minh việc ban bí tích Rửa Tội, nếu không có người đỡ đầu.

Canon 875

Whoever administers baptism is to take care that if there is not a sponsor present, there is at least one witness who can prove that the baptism was conferred.

Điều 876

Lời tuyên bố của một nhân chứng đáng tin cậy hay lời thề của chính người đã được Rửa Tội, nếu họ đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội ở tuổi thành niên, đủ để làm bằng chứng cho việc ban bí tích Rửa Tội, nếu điều đó không gây thiệt hại cho ai.

Canon 876

To prove that baptism has been conferred, if there is no conflict of interest, it is sufficient to have either one unexceptionable witness or, if the baptism was conferred upon an adult, the sworn testimony of the baptised person.

Điều 877

§1. Cha sở tại nơi cử hành bí tích Rửa Tội phải cẩn thận ghi ngay vào sổ Rửa Tội tên của những người đã được Rửa Tội, của thừa tác viên, của cha mẹ, của người đỡ đầu và của những nhân chứng, nếu có, ngày và nơi ban bí tích Rửa Tội, cũng như ngày và nơi sinh của họ.
§2. Trong trường hợp một đứa con của người mẹ không có hôn phối, thì phải ghi tên người mẹ, nếu mẫu tính được biết cách công khai, hoặc nếu chính người mẹ tự ý yêu cầu điều đó bằng văn bản hay trước mặt hai nhân chứng, cũng phải ghi tên người cha, nếu phụ tính được chứng minh qua một tài liệu chính thức hay qua lời tuyên bố của đương sự trước mặt cha sở và hai nhân chứng; trong những trường hợp khác, chỉ phải ghi tên người được Rửa Tội mà thôi, chứ không ghi tên người cha hoặc tên cha mẹ.
§3. Nếu là con nuôi, thì phải ghi tên các người nuôi, ít là khi điều đó được thể hiện trong sổ hộ tịch địa phương, và tên cha mẹ ruột, chiếu theo quy tắc của §
§1 và 2, và phải lưu ý đến những quy định của Hội Đồng Giám Mục.

Canon 877

§1 The parish priest of the place in which the baptism was conferred must carefully and without delay record in the register of baptism the names of the baptised, the minister, the parents, the sponsors and, if there were such, the witnesses, and the place and date of baptism. He must also enter the date and place of birth. [Regarding the annotation of same-sex couples or “transgender persons” as parents in the baptismal register, see the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 15986/2017, 15.XI.2017]
§2 In the case of a child of an unmarried mother, the mother’s name is to be entered if her maternity is publicly known or if, either in writing or before two witnesses, she freely asks that this be done. Similarly, the name of the father is to be entered, if his paternity is established either by some public document or by his own declaration in the presence of the parish priest and two witnesses. In all other cases, the name of the baptised person is to be registered, without any indication of the name of the father or of the parents.
§3 In the case of an adopted child, the names of the adopting parents are to be registered and, at least if this is done in the local civil registration, the names of the natural parents in accordance with §
§1 and 2 subject however to the rulings of the Episcopal Conference. [A Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 18360/2024, 25.X.2024, explains that in parish baptismal registers only the natural parents (and adoptive parents when appropriate) of a child should be recorded according to canon law, and that for persons who have undergone gender-related hormone or surgical treatment the baptismal record should not be altered to reflect a new civil “social name,” but may include a notation that the person’s civilly-recognized sex no longer corresponds to that recorded at baptism]

Điều 878

Nếu cha sở không cử hành bí tích tích Rửa Tội và cũng không có mặt, thì thừa tác viên của bí tích Rửa Tội, dù là ai đi nữa, phải thông báo cho cha sở của giáo xứ nơi mà bí tích Rửa Tội đã được cử hành, để ngài ghi vào sổ chiếu theo quy tắc của điều 877
§1.

Canon 878

If baptism was administered neither by the parish priest nor in his presence, the minister of baptism, whoever that was, must notify the parish priest of the parish in which the baptism was administered, so that he may register the baptism in accordance with can. 877
§1.

Điều 879

Nhờ bí tích Thêm Sức in một ấn tích, những người đã được Rửa Tội đang tiếp tục con đường khai tâm Kitô giáo được dồi dào ơn Chúa Thánh Thần và được liên kết chặt chẽ hơn với Giáo Hội; bí tích này tăng sức cho họ và buộc họ cách nghiêm ngặt hơn phải trở nên nhân chứng của Đức Kitô bằng lời nói và bằng việc làm, cũng như phải truyền bá và bênh vực đức tin.

Canon 879

The sacrament of confirmation confers a character. By it the baptised continue their path of Christian initiation. They are enriched with the gift of the Holy Spirit, and are more closely linked to the Church. They are made strong and more firmly obliged by word and deed to witness to Christ and to spread and defend the faith. [On the relationship between faith and the sacrament of confirmation see International Theological Commission, The Reciprocity between Faith and Sacraments in the Sacramental Economy (2020), nos. 95-101]

Điều 880

§1. Bí tích Thêm Sức được ban bằng việc xức dầu thánh hiến trên trán, được thực hiện bằng việc đặt tay và đọc những lời quy định trong các sách phụng vụ đã được chuẩn nhận.
§2. Dầu thánh hiến dùng trong bí tích Thêm Sức phải được Giám Mục thánh hiến, kể cả khi bí tích này được linh mục ban.

Canon 880

§1 The sacrament of confirmation is conferred by anointing with chrism on the forehead in a laying on of hands, and by the words prescribed in the approved liturgical books.
§2 The chrism to be used in the sacrament of confirmation must have been consecrated by a Bishop, even when the sacrament is administered by a priest.

Điều 881

Nên cử hành bí tích Thêm Sức trong một nhà thờ và trong Thánh Lễ, tuy nhiên, vì một lý do chính đáng và hợp lý, bí tích Thêm Sức có thể cử hành ngoài Thánh Lễ và tại bất cứ nơi nào xứng đáng.

Canon 881

It is desirable that the sacrament of confirmation be celebrated in a church and indeed during Mass. However, for a just and reasonable cause it may be celebrated apart from Mass and in any fitting place.

Điều 882

Thừa tác viên thông thường của bí tích Thêm Sức là Giám Mục; linh mục cũng ban bí tích này thành sự, nếu có năng quyền đó chiếu theo luật Phổ quát, hoặc do nhà chức trách có thẩm quyền ban riêng cho.

Canon 882

The ordinary minister of confirmation is a Bishop. A priest can also validly confer this sacrament if he has the faculty to do so, either from the general law or by way of a special grant from the competent authority.

Điều 883

Những vị sau đây đương nhiên có năng quyền ban bí tích Thêm Sức:1° những vị được luật đồng hóa với Giám Mục giáo phận, trong giới hạn thẩm quyền của mình;2° đối với người liên hệ, thì linh mục nào chiếu theo chức vụ hoặc được Giám Mục giáo phận ủy quyền Rửa Tội cho một người đã quá tuổi nhi đồng hoặc tiếp nhận một người đã được Rửa Tội và hiệp thông trọng vẹn với Giáo Hội Công giáo;3° đối với những người trong cơn nguy tử, thì cha sở và thậm chí bất cứ linh mục nào.

Canon 883

The following have, by law, the faculty to administer confirmation:1° within the confines of their jurisdiction, those who in law are equivalent to a diocesan Bishop;2° in respect of the person to be confirmed, the priest who by virtue of his office or by mandate of the diocesan Bishop baptises an adult or admits a baptised adult into full communion with the Catholic Church;3° in respect of those in danger of death, the parish priest or indeed any priest.

Điều 884

§1. Giám Mục giáo phận phải đích thân ban bí tích Thêm Sức hoặc phải liệu sao để có một Giám Mục khác ban bí tích này; nhưng nếu cần, ngài có thể ban năng quyền cử hành bí tích Thêm Sức cho một hay nhiều linh mục nhất định.
§2. Vì một lý do nghiêm trọng, Giám Mục và cả linh mục nào có năng quyền ban bí tích Thêm Sức chiếu theo luật hoặc do nhà chức trách có thẩm quyền ban riêng cho, đều có thể mời các linh mục cùng ban bí tích với mình trong từng trường hợp.

Canon 884

§1 The diocesan Bishop is himself to administer confirmation or to ensure that it is administered by another Bishop. If necessity so requires, he may grant to one or several specified priests the faculty to administer this sacrament.
§2 For a grave reason the Bishop, or the priest who by law or by special grant of the competent authority has the faculty to confirm, may in individual cases invite other priests to join with him in administering the sacrament.

Điều 885

§1. Giám Mục giáo phận buộc phải liệu sao để những người thuộc quyền mình được lãnh nhận bí tích Thêm Sức, khi họ xin điều đó cách thích đáng và hợp lý.
§2. Linh mục nào có năng quyền ban bí tích Thêm Sức, thì phải sử dụng năng quyền này đối với những người mà vì ích lợi của họ năng quyền đã được ban cho ngài.

Canon 885

§1 The diocesan Bishop is bound to ensure that the sacrament of confirmation is conferred upon his subjects who duly and reasonably request it.
§2 A priest who has this faculty must use it for those in whose favour it was granted.

Điều 886

§1. Trong giáo phận mình, Giám Mục ban bí tích Thêm Sức cách hợp thức cho cả những tín hữu không thuộc quyền ngài, trừ khi Đấng Bản Quyền của họ đã minh nhiên ngăn cấm.
§2. Để ban bí tích Thêm Sức trong giáo phận khác cách hợp thức, một Giám Mục cần có phép, ít là được suy đoán cách hợp lý, của Giám Mục giáo phận, trừ khi đó là những người thuộc quyền mình.

Canon 886

§1 A Bishop in his own diocese may lawfully administer the sacrament of confirmation even to the faithful who are not his subjects, unless there is an express prohibition by their own Ordinary.
§2 In order lawfully to administer confirmation in another diocese, unless it be to his own subjects, a Bishop needs the permission, at least reasonably presumed, of the diocesan Bishop.

Điều 887

Trong địa hạt đã được chỉ thị cho mình, linh mục nào có năng quyền ban bí tích Thêm Sức cũng có thể ban bí tích này cách hợp thức cho những người ngoại cư, trừ khi Đấng Bản Quyền của họ đã minh nhiên ngăn cấm điều đó, nhưng ngài không thể ban ban bí tích Thêm Sức cách thành sự cho bất cứ ai trong một địa hạt khác, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 833, 30.

Canon 887

A priest who has the faculty to administer confirmation may, within the territory assigned to him, lawfully administer this sacrament even to those from outside the territory, unless there is a prohibition by their own Ordinary. He cannot, however, validly confirm anyone in another territory, without prejudice to the provision of can. 883, n. 3.

Điều 888

Trong địa hạt mà các thừa tác viên có năng quyền ban bí tích Thêm Sức, thì ngài cũng có thể ban bí tích ấy trong những nơi miễn trừ.

Canon 888

Within the territory in which they can confer confirmation, ministers may confirm even in exempt places.

Điều 889

§1. Mọi người và chỉ những người đã Rửa Tội mà chưa lãnh nhận bí tích Thêm Sức mới có khả năng lãnh nhận bí tích Thêm Sức.
§2. Ngoài trường hợp nguy tử, để lãnh nhận bí tích Thêm Sức cách hợp thức, nếu đương sự đã đến tưổi khôn, thì buộc phải học hỏi đúng mức, phải được chuẩn bị đầy đủ và phải có khả năng lặp lại các lời hứa khi chịu phép Rửa Tội.

Canon 889

§1 Every baptised person who is not confirmed, and only such a person, is capable of receiving confirmation.
§2 Apart from the danger of death, to receive confirmation lawfully a person who has the use of reason must be suitably instructed, properly disposed and able to renew the baptismal promises.

Điều 890

Các tín hữu buộc phải lãnh nhận bí tích này vào thời gian thích hợp; các bậc cha mẹ, các vị chủ chăn, nhất là cha sở, phải liệu sao cho các tín hữu được học hỏi đúng mức để lãnh nhận bí tích này, và được lãnh nhận vào thời gian thích hợp.

Canon 890

The faithful are bound to receive this sacrament at the proper time. Parents and pastors of souls, especially parish priests, are to see that the faithful are properly instructed to receive the sacrament and come to it at the opportune time.

Điều 891

Phải ban bí tích Thêm Sức cho các tín hữu vào khoảng tuổi khôn, trừ khi Hội Đồng Giám Mục ấn định một mức tuổi khác, trừ trường hợp nguy tử, hoặc trừ khi có một lý do nghiêm trọng khuyên làm cách khác, theo sự phán đoán của thừa tác viên.

Canon 891

The sacrament of confirmation is to be conferred on the faithful at about the age of discretion, unless the Episcopal Conference has decided on a different age, or there is a danger of death or, in the judgement of the minister, a grave reason suggests otherwise.

Điều 892

Trong mức độ có thể, người lãnh nhận bí tích Thêm Sức phải có một người đỡ đầu hiện diện; người này liệu sao cho người đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức biết cư xử như nhân chứng đích thực của Chúa Kitô và trung thành chu toàn các nghĩa vụ gắn liền với bí tích ấy.

Canon 892

As far as possible the person to be confirmed is to have a sponsor. The sponsor’s function is to take care that the person confirmed behaves as a true witness of Christ and faithfully fulfils the duties inherent in this sacrament.

Điều 893

§1. Để thi hành nhiệm vụ đỡ đầu, phải hội đủ các điều kiện được nói đến ở điều 874.
§2. Nên chọn người đỡ đầu là người đã đảm nhận nhiệm vụ ấy trong bí tích Rửa Tội.

Canon 893

§1 A person who would undertake the office of sponsor must fulfil the conditions mentioned in can. 874.
§2 It is desirable that the sponsor chosen be the one who undertook this role at baptism.

Điều 894

Để chứng minh việc ban bí tích Thêm Sức, phải tuân giữ những quy định của điều 876.

Canon 894

To establish that confirmation has been conferred, the provisions of can. 876 are to be observed.

Điều 895

Phải ghi vào sổ Thêm Sức của tòa giám mục tên của những người đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức, của thừa tác viên, của cha mẹ và của người đỡ đầu, nơi và ngày ban bí tích Thêm Sức, hoặc ở đâu mà Hội Đồng Giám Mục hay Giám Mục giáo phận quy định thì phải ghi vào trong sổ được lưu giữ trong văn khố của giáo xứ; cha sở phải thông báo về việc ban bí tích Thêm Sức cho cha sở tại nơi ban bí tích Rửa Tội để ngài ghi việc ban bí tích Thêm Sức vào sổ Rửa Tội, chiếu theo quy tắc của điều 535
§2.

Canon 895

The names of those confirmed, the minister, the parents, the sponsors and the place and date of the confirmation are to be recorded in the confirmation register of the diocesan curia or, wherever this has been prescribed by the Episcopal Conference or by the diocesan Bishop, in the register to be kept in the parochial archive. The parish priest must notify the parish priest of the place of the baptism that the confirmation was conferred, so that it be recorded in the baptismal register, in accordance with can. 535
§2.

Điều 896

Nếu cha sở địa phương vắng mặt, thừa tác viên phải tự mình hoặc nhờ người khác thông báo sớm hết sức cho ngài về việc ban bí tích Thêm Sức.

Canon 896

If the parish priest of the place was not present, the minister, personally or through someone else, is to notify him as soon as possible that the confirmation was conferred.

Điều 897

Bí tích cao trọng nhất là bí tích Thánh Thể, trong đó chính Chúa Kitô hiện diện, được dâng hiến và trở nên lương thực, và nhờ đó mà Giáo Hội tiếp tục sống và tăng trưởng. Hiến tế Thánh Thể tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa, là nơi Hiến Tế Thập Giá được tiếp diễn mãi đến muôn đời, là chóp đỉnh và nguồn mạch của tất cả việc thờ phượng và đời sống Kitô giáo; nhờ Hiến Tế Thánh Thể, sự hiệp nhất của dân Chúa được biểu lộ và được thực hiện, và việc xây dựng Thân Mình Đức Kitô được hoàn tất. Thật vậy, tất cả các bí tích khác và tất cả các hoạt động tông đồ của Giáo Hội đều liên kết mật thiết với bí tích Thánh Thể và quy hướng về bí tích Thánh Thể.

Canon 897

The most venerable sacrament is the blessed Eucharist, in which Christ the Lord himself is contained, offered and received, and by which the Church continually lives and grows. The eucharistic Sacrifice, the memorial of the death and resurrection of the Lord, in which the Sacrifice of the cross is forever perpetuated, is the summit and the source of all worship and Christian life. By means of it the unity of God’s people is signified and brought about, and the building up of the body of Christ is perfected. The other sacraments and all the apostolic works of Christ are bound up with, and directed to, the blessed Eucharist. [On the relationship between faith and the sacrament of the Eucharist see International Theological Commission, The Reciprocity between Faith and Sacraments in the Sacramental Economy (2020), nos. 102-131]

Điều 898

Các Kitô hữu phải hết sức tôn thờ bí tích Thánh Thể bằng cách tham dự tích cực vào việc cử hành Hiến Tế cực trọng, siêng năng sốt sắng lãnh nhận bí tích này và hết lòng tôn sùng Thánh Thể; các vị chủ chăn các linh hồn phải chuyên cần dạy cho các tín hữu biết nghĩa vụ ấy khi giải thích đạo lý về bí tích này.

Canon 898

Christ’s faithful are to hold the blessed Eucharist in the highest honour. They should take an active part in the celebration of the most august Sacrifice of the Mass; they should receive the sacrament with great devotion and frequently, and should reverence it with the greatest adoration. In explaining the doctrine of this sacrament, pastors of souls are assiduously to instruct the faithful about their obligation in this regard.

Điều 899

§1. Việc cử hành bí tích Thánh Thể là hành động của chính Đức Kitô và Giáo Hội, trong đó Chúa Kitô, qua thừa tác vụ của tư tế, hiện diện cách bản thể dưới hình bánh và rượu, dâng mình cho Thiên Chúa Cha và tự hiến mình làm của ăn thiêng liêng cho các tín hữu được kết hợp với lễ tế của ngài.
§2. Trong bữa tiệc Thánh Thể, đoàn dân Chúa được triệu tập thành cộng đoàn dưới sự chủ tọa của Giám Mục hay của linh mục dưới quyền ngài, các vị này hành động với tư cách là chính Đức Kitô, và tất cả mọi tín hữu hiện diện ở đó, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đều góp phần tích cực tham dự, mỗi người theo thể thức riêng của mình, tùy theo sự khác biệt về cấp bậc và chức năng phụng vụ.
§3. Việc cử hành bí tích Thánh Thể phải được tổ chức thế nào để cho mọi người tham dự đều nhận được ở đó những kết quả dồi dào, như Chúa Kitô mong muốn khi thiết lập Hiến Tế Thánh Thể.

Canon 899

§1 The celebration of the Eucharist is an action of Christ himself and of the Church. In it Christ the Lord, through the ministry of the priest, offers himself, substantially present under the appearances of bread and wine, to God the Father, and gives himself as spiritual nourishment to the faithful who are associated with him in his offering.
§2 In the eucharistic assembly the people of God are called together under the presidency of the Bishop or of a priest authorised by him, who acts in the person of Christ. All the faithful present, whether clerics or lay people, unite to participate in their own way, according to their various orders and liturgical roles. [On the meaning of “in the person of Christ” see Dicastery for the Doctrine of the Faith, Note Gestis verbisque, 25.I.2024, no. 24]
§3 The eucharistic celebration is to be so ordered that all the participants derive from it the many fruits for which Christ the Lord instituted the eucharistic Sacrifice.

Điều 900

§1. Chỉ có tư tế đã được truyền chức thành sự là thừa tác viên có thể cử hành bí tích Thánh Thể với tư cách là chính Đức Kitô.
§2. Tư tế nào không bị ngăn trở do giáo luật, thì cử hành bí tích Thánh Thể cách hợp thức, nhưng vẫn giữ những quy định của các điều khoản sau đây.

Canon 900

§1 The only minister who, in the person of Christ, can bring into being the sacrament of the Eucharist, is a validly ordained priest.
§2 Any priest who is not debarred by canon law may lawfully celebrate the Eucharist, provided the provisions of the following canons are observed.

Điều 901

Tư tế có trọn quyền dâng ý lễ cho những người còn sống cũng như cho những người đã qua đời.

Canon 901

A priest is entitled to offer Mass for anyone, living or dead.

Điều 902

Trừ khi lợi ích của các Kitô hữu đòi buộc hay khuyên làm cách khác, các tư tế có thể đồng tế Thánh Lễ, tuy mỗi vị vẫn có quyền tự do dâng lễ riêng, nhưng không được cùng một lúc với Thánh Lễ đồng tế trong cùng một nhà thờ hay nhà nguyện.

Canon 902

Unless the benefit of Christ’s faithful requires or suggests otherwise, priests may concelebrate the Eucharist; they are, however, fully entitled to celebrate the Eucharist individually, but not while a celebration is taking place in the same church or oratory.

Điều 903

Một tư tế phải được nhận cho cử hành Thánh Lễ mặc dù cha quản nhiệm nhà thờ không quen biết, miễn là ngài xuất trình thư giới thiệu do Đấng Bản Quyền hay của Bề Trên mình cấp chưa quá một năm, hoặc miễn là cha quản nhiệm có thể nhận định cách khôn ngoan là không có gì ngăn trở tư tế ấy cử hành Thánh Lễ.

Canon 903

A priest is to be permitted to celebrate the Eucharist, even if he is not known to the rector of the church, provided either that he presents commendatory letters, not more than a year old, from his own Ordinary or Superior, or that it can be prudently judged that he is not debarred from celebrating.

Điều 904

Các tư tế phải năng cử hành Thánh Lễ và phải nhớ rằng công trình cứu chuộc được liên tục thực hiện trong mầu nhiệm Hiến Tế Thánh Thể; hơn nữa, các ngài được khẩn khoản kêu mời cử hành Thánh Lễ hằng ngày, ngay cả khi không có tín hữu tham dự, việc cử hành này vẫn là hành động của đức Kitô và Giáo Hội; khi thực hiện việc cử hành như vậy, các tư tế chu toàn nhiệm vụ chính yếu của mình.

Canon 904

Remembering always that in the mystery of the eucharistic Sacrifice the work of redemption is continually being carried out, priests are to celebrate frequently. Indeed, daily celebration is earnestly recommended, because, even if it should not be possible to have the faithful present, it is an action of Christ and of the Church in which priests fulfil their principal role.

Điều 905

§1. Tư tế chỉ được phép cử hành mỗi ngày một Thánh Lễ, trừ những trường hợp chiếu theo quy tắc của luật được phép cử hành hoặc đồng tế Thánh Lễ nhiều lần trong một ngày.
§2. Nếu thiếu tư tế, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép các tư tế, khi có một lý do chính đáng, được cử hành hai Thánh Lễ mỗi ngày, hơn nữa, khi có nhu cầu mục vụ đòi hỏi, được cử hành ba Thánh Lễ trong các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc.

Canon 905

§1 Apart from those cases in which the law allows him to celebrate or concelebrate the Eucharist a number of times on the same day, a priest may not celebrate more than once a day.
§2 If there is a scarcity of priests, the local Ordinary may for a good reason allow priests to celebrate twice in one day or even, if pastoral need requires it, three times on Sundays or holydays of obligation.

Điều 906

Trừ khi có một lý do chính đáng và hợp lý, tư tế không được cử hành Hiến Tế Thánh Thể khi không có ít là một tín hữu tham dự.

Canon 906

A priest may not celebrate the eucharistic Sacrifice without the participation of at least one of the faithful, unless there is a good and reasonable cause for doing so.

Điều 907

Trong khi cử hành bí tích Thánh Thể, các phó tế và giáo dân không được phép đọc các lời nguyện, nhất là kinh nguyện Thánh Thể, hoặc làm các hành vi riêng của tư tế chủ lễ.

Canon 907

In the celebration of the Eucharist, deacons and lay persons are not permitted to say the prayers, especially the eucharistic prayer, nor to perform the actions which are proper to the celebrating priest.

Điều 908

Cấm các tư tế Công giáo đồng tế Thánh Lễ với các tư tế hay thừa tác viên thuộc các Giáo Hội hay các cộng đoàn Giáo Hội không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo.

Canon 908

Catholic priests are forbidden to concelebrate the Eucharist with priests or ministers of Churches or ecclesial communities which are not in full communion with the Catholic Church.

Điều 909

Tư tế đừng bỏ qua việc dọn mình cách xứng hợp bằng lời cầu nguyện để cử hành Hiến Tế Thánh Thể và đừng quên tạ ơn Thiên Chúa sau khi cử hành.

Canon 909

A priest is not to omit dutifully to prepare himself by prayer before the celebration of the Eucharist, nor afterwards to omit to make thanksgiving to God.

Điều 910

§1. Những thừa tác viên thông thường cho rước lễ là Giám Mục, linh mục và phó tế.
§2. Những thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ là người đã nhận thừa tác vụ giúp lễ và bất cứ Kitô hữu nào đã được ủy quyền chiếu theo quy tắc của điều 230
§3.

Canon 910

§1 The ordinary minister of holy communion is a Bishop, a priest or a deacon.
§2 The extraordinary minister of holy communion is an acolyte, or another of Christ’s faithful deputed in accordance with can. 230
§3. [Extraordinary ministers of Holy Communion may not exercise their function if ordinary ministers are present and are not impeded: see Authentic Interpretation of canon 910
§2, 1.VI.1988]

Điều 911

§1. Cha sở và các cha phó, các cha tuyên úy có bổn phận và có quyền đưa Mình Thánh Chúa như Của Ăn Đàng cho bệnh nhân, cũng như Bề Trên cộng đoàn các hội dòng giáo sĩ hoặc các tu đoàn tông đồ có quyền và có bổn phận ấy đối với mọi người ở trong nhà mình.
§2. Trong trường hợp cần thiết hoặc có phép ít là được suy đoán của cha sở, của cha tuyên úy hay của Bề Trên, bất cứ tư tế hay thừa tác viên nào có quyền cho rước lễ, đều phải làm việc ấy, nhưng sau đó phải báo lại cho vị đó biết.

Canon 911

§1 The duty and right to bring the blessed Eucharist to the sick as Viaticum belongs to the parish priest, to assistant priests, to chaplains and, in respect of all who are in the house, to the community Superior in clerical religious institutes or societies of apostolic life.
§2 In a case of necessity, or with the permission at least presumed of the parish priest, chaplain or Superior, who must subsequently be notified, any priest or other minister of holy communion must do this.

Điều 912

Tất cả mọi người đã được Rửa Tội và không bị luật ngăn cấm, đều có thể và phải được rước lễ.

Canon 912

Any baptised person who is not forbidden by law may and must be admitted to holy communion.

Điều 913

§1. Để có thể được rước lễ, trẻ em buộc phải hiểu biết đủ và phải được chuẩn bị kỹ lưỡng đến độ hiểu được mầu nhiệm Đức Kitô theo khả năng của mình và có thể rước Mình Thánh Chúa với đức tin và lòng sốt sắng.
§2. Nhưng có thể cho trẻ em trong cơn nguy tử rước lễ, nếu chúng có thể phân biệt Mình Thánh Chúa với của ăn thường và có thể rước lễ với lòng cung kính.

Canon 913

§1 For holy communion to be administered to children, it is required that they have sufficient knowledge and be accurately prepared, so that according to their capacity they understand what the mystery of Christ means, and are able to receive the Body of the Lord with faith and devotion.
§2 The blessed Eucharist may, however, be administered to children in danger of death if they can distinguish the Body of Christ from ordinary food and receive communion with reverence.

Điều 914

Trước tiên là cha mẹ và những người thay quyền cha mẹ, kể cả cha sở, có bổn phận liệu sao cho nhi đồng đến tuổi khôn được chuẩn bị cách thích đáng và được nuôi dưỡng bằng lương thực thánh này càng sớm càng tốt, sau khi đã lãnh nhận bí tích Sám Hối. Cha sở cũng liệu sao để nhi đồng chưa đến tuổi khôn, hoặc nhi đồng không được chuẩn bị đủ theo sự nhận xét của ngài không được rước lễ.

Canon 914

It is primarily the duty of parents and of those who take their place, as it is the duty of the parish priest, to ensure that children who have reached the use of reason are properly prepared and, having made their sacramental confession, are nourished by this divine food as soon as possible. It is also the duty of the parish priest to see that children who have not reached the use of reason, or whom he has judged to be insufficiently disposed, do not come to holy communion.

Điều 915

Những người bị vạ tuyệt thông và những người bị cấm chế sau khi hình phạt đã được tuyên kết hay tuyên bố, cũng như những người ngoan cố sống trong tội trọng tỏ tường, không được rước lễ.

Canon 915

Those upon whom the penalty of excommunication or interdict has been imposed or declared, and others who obstinately persist in manifest grave sin, are not to be admitted to holy communion. [See the Declaration of the Dicastery for Legislative Texts, 24.VI.2000, on the admissibility to Holy Commiunion of those who are divorced and remarried]

Điều 916

Người nào ý thức mình đang mắc tội trọng thì không được cử hành Thánh Lễ và cũng không được rước Mình Thánh Chúa, nếu không nhận bí tích Sám Hối trước, trừ khi có một lý do nghiêm trọng và không có dịp để xưng tội, trong trường hợp này, người ấy phải nhớ rằng mình phải ăn năn tội cách trọn, trong đó bao gồm việc quyết tâm xưng tội sớm hết sức.

Canon 916

Anyone who is conscious of grave sin may not celebrate Mass or receive the Body of the Lord without previously having been to sacramental confession, unless there is a grave reason and there is no opportunity to confess; in this case the person is to remember the obligation to make an act of perfect contrition, which includes the resolve to go to confession as soon as possible.

Điều 917

Người nào đã rước lễ rồi, thì có thể rước lễ lần nữa trong cùng một ngày, nhưng chỉ trong buổi cử hành Thánh Thể mà họ tham dự, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 921
§2.

Canon 917

One who has received the blessed Eucharist may receive it again on the same day only within a eucharistic celebration in which that person participates, without prejudice to the provision of can. 921
§2. [An Authentic Interpretation of canon 917, 11.VII.1984, states that one who has already received the Eucharist may receive it only once more on the same day]

Điều 918

Hết sức khuyến khích các tín hữu rước lễ trong chính buổi cử hành Thánh Thể, nhưng đối với những người xin rước lễ vì một lý do chính đáng, thì phải cho họ rước lễ ngoài Thánh Lễ, nhưng vẫn phải giữ những nghi thức phụng vụ.

Canon 918

It is most strongly recommended that the faithful receive holy communion in the course of a eucharistic celebration. If, however, for good reason they ask for it apart from the Mass, it is to be administered to them, observing the liturgical rites.

Điều 919

§1. Người nào muốn rước Thánh Thể, thì phải kiêng mọi thức ăn, thức uống, chỉ trừ nước lã và thuốc chữa bệnh, ít là khoảng một giờ trước khi rước lễ.
§2. Tư tế cử hành Thánh Lễ hai hoặc ba lần trong cùng một ngày có thể ăn uống chút ít trước khi cử hành Thánh Lễ lần thứ hai hay lần thứ ba, dẫu không cách quảng một giờ.
§3. Những người cao niên và bệnh tật, cũng như những người chăm sóc họ, có thể rước Thánh Thể, dù đã ăn uống chút ít trước đó không tới một giờ.

Canon 919

§1 Whoever is to receive the blessed Eucharist is to abstain for at least one hour before holy communion from all food and drink, with the sole exception of water and medicine.
§2 A priest who, on the same day, celebrates the blessed Eucharist twice or three times may consume something before the second or third celebration, even though there is not an hour’s interval.
§3 The elderly and those who are suffering from some illness, as well as those who care for them, may receive the blessed Eucharist even if within the preceding hour they have consumed something.

Điều 920

§1. Sau khi đã rước lễ lần đầu, tất cả mọi tín hữu buộc phải rước lễ mỗi năm ít là một lần.
§2. Phải chu toàn mệnh lệnh này trong mùa Phục Sinh, trừ khi phải chu toàn vào một thời gian khác trong năm vì một lý do chính đáng.

Canon 920

§1 Once admitted to the blessed Eucharist, each of the faithful is obliged to receive holy communion at least once a year.
§2 This precept must be fulfilled during paschal time, unless for a good reason it is fulfilled at another time during the year.

Điều 921

§1. Các Kitô hữu lâm cơn nguy tử vì bất cứ lý do nào, phải được rước lễ như Của Ăn Đàng.
§2. Hết sức khuyến khích những người lâm cơn nguy tử rước lễ lần nữa, mặc dù họ đã rước lễ trong ngày ấy rồi.
§3. Nên rước lễ nhiều lần vào những ngày khác nhau, bao lâu cơn nguy tử còn kéo dài.

Canon 921

§1 Christ’s faithful who are in danger of death, from whatever cause, are to be strengthened by holy communion as Viaticum.
§2 Even if they have already received holy communion that same day, it is nevertheless strongly suggested that in danger of death they should communicate again.
§3 While the danger of death persists, it is recommended that holy communion be administered a number of times, but on separate days.

Điều 922

Không được trì hoãn quá lâu việc các bệnh nhận lãnh nhận Của Ăn Đàng; những người có trách nhiệm coi sóc các linh hồn phải ân cần liệu sao cho bệnh nhân được lãnh nhận Của Ăn Đàng khi họ còn đủ tỉnh táo.

Canon 922

Holy Viaticum for the sick is not to be unduly delayed. Those who have the care of souls are to take assiduous care that the sick are strengthened by it while they are in full possession of their faculties.

Điều 923

Các Kitô hữu có thể tham dự Hiến Tế Thánh Thể và rước lễ trong bất cứ nghi lễ Công giáo nào, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 844.

Canon 923

Christ’s faithful may participate in the eucharistic Sacrifice and receive holy communion in any Catholic rite, without prejudice to the provisions of can. 844. CELEBRATION

Điều 924

§1. Hiến tế Thánh Thể phải được tiến dâng với bánh và rượu nho có pha một chút nước lã.
§2. Bánh phải được làm bằng bột lúa mì nguyên chất và mới làm để tránh mọi nguy cơ hư hại.
§3. Rượu nho phải là rượu tự nhiên từ trái nho và không bị hư.

Canon 924

§1 The most holy Sacrifice of the Eucharist must be celebrated in bread, and in wine to which a small quantity of water is to be added.
§2 The bread must be wheaten only, and recently made, so that there is no danger of corruption.
§3 The wine must be natural, made from grapes of the vine, and not corrupt. [See Congregation for Divine Worship and the Discipline of the Sacraments, Circular letter to Bishops, 15.VI.2017, for guidance on ensuring the genuineness of the Eucharist matter]

Điều 925

Phải cho rước lễ với một hình bánh mà thôi hoặc chiếu theo quy tắc của luật phụng vụ dưới cả hai hình; nhưng trong trường hợp cần thiết, cũng có thể cho rước lễ dưới một hình rượu mà thôi.

Canon 925

Holy communion is to be given under the species of bread alone or, in accordance with the liturgical laws, under both species or, in case of necessity, even under the species of wine alone.

Điều 926

Trong việc cử hành Thánh Thể, theo truyền thống cổ kính trong Giáo Hội Latinh, tư tế phải dùng bánh không men, dù cử hành ở đâu.

Canon 926

In the eucharistic celebration, in accordance with the ancient tradition of the Latin Church, the priest is to use unleavened bread wherever he celebrates Mass.

Điều 927

Tuyệt đối cấm truyền phép một chất thể mà không có chất thể kia, hoặc truyền phép cả hai chất ngoài lúc cử hành Thánh Thể, ngay cả trong trường hợp khẩn cấp và hết sức cần thiết.

Canon 927

It is absolutely wrong, even in urgent and extreme necessity, to consecrate one element without the other, or even to consecrate both outside the eucharistic celebration.

Điều 928

Phải cử hành Thánh Thể bằng tiếng Latinh hoặc bằng một ngôn ngữ khác, miễn là bản văn phụng vụ đã được chuẩn nhận cách hợp thức.

Canon 928

The eucharistic celebration is to be carried out either in the Latin language or in another language, provided the liturgical texts have been lawfully approved.

Điều 929

Để cử hành và ban Thánh Thể, các tư tế và các phó tế phải mặc lễ phục thánh theo quy định của luật chữ đỏ.

Canon 929

In celebrating and administering the Eucharist, priests and deacons are to wear the sacred vestments prescribed by the rubrics.

Điều 930

§1. Tư tế đau yếu hoặc cao niên có thể ngồi cử hành Hiến Tế Thánh Thể, nếu không thể đứng được, nhưng luôn luôn phải giữ các luật phụng vụ, tuy nhiên không được cử hành trước mặt dân chúng, trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương cho phép.
§2. Tư tế bị mù lòa hoặc bị một tàn tật khác có thể cử hành Hiến Tế Thánh Thể cách hợp thức, với bất cứ bản văn Thánh Lễ nào đã được chuẩn nhận và với sự hiện diện, nếu cần, của một tư tế hay một phó tế khác, hoặc cả của một giáo dân đã được chỉ dẫn cách thích hợp để giúp ngài.

Canon 930

§1 A priest who is ill or elderly, if he is unable to stand, may celebrate the eucharistic Sacrifice sitting but otherwise observing the liturgical laws; he may not, however, do so in public except by permission of the local Ordinary.
§2 A priest who is blind or suffering from some other infirmity, may lawfully celebrate the eucharistic Sacrifice by using the text of any approved Mass, with the assistance, if need be, of another priest or deacon or even a properly instructed lay person.

Điều 931

Có thể cử hành bí tích Thánh Thể và cho rước lễ mọi ngày và vào bất cứ giờ nào, trừ khi điều đó bị cấm chiếu theo quy tắc của luật phụng vụ.

Canon 931

The celebration and distribution of the Eucharist may take place on any day and at any hour, except those which are excluded by the liturgical laws.

Điều 932

§1. Phải cử hành Thánh Thể trong một nơi thánh, trừ khi nhu cầu đòi hỏi cách khác trong một trường hợp đặc biệt; trong trường hợp này, phải cử hành ở một chỗ tôn nghiêm.
§2. Phải cử hành Thánh Thể trên một bàn thờ đã được cung hiến hoặc đã được làm phép; ngoài nơi thánh, có thể dùng một bàn xứng đáng, nhưng luôn luôn phải có khăn trải bàn thờ và khăn thánh.

Canon 932

§1 The eucharistic celebration is to be carried out in a sacred place, unless in a particular case necessity requires otherwise; in which case the celebration must be in a fitting place.
§2 The eucharistic Sacrifice must be carried out at an altar that is dedicated or blessed. Outside a sacred place an appropriate table may be used, but always with an altar cloth and a corporal.

Điều 933

Khi có một lý do chính đáng và khi có phép minh nhiên của Đấng Bản Quyền địa phương, tư tế được phép cử hành Thánh Thể trong đền thờ của một Giáo Hội hoặc của cộng đoàn Giáo Hội không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo, miễn là tránh mọi nguy cơ gây gương xấu.

Canon 933

For a good reason, with the express permission of the local Ordinary and provided scandal has been eliminated, a priest may celebrate the Eucharist in a place of worship of any Church or ecclesial community which is not in full communion with the Catholic Church. BLESSED EUCHARIST

Điều 934

§1. Thánh Thể:1° phải được lưu giữ trong nhà thờ chính tòa hoặc trong một nhà thờ tương đương, trong bất cứ nhà thờ giáo xứ nào và một trong nhà thờ hay nhà nguyện gắn liền với nhà của một hội dòng hoặc của một tu đoàn tông đồ;2° có thể được lưu giữ tại nhà nguyện tư cửa Giám Mục và, với phép của Đấng Bản Quyền địa phương, tại các nhà thờ, nhà nguyện và nhà nguyện khác.
§2. Trong những nơi thánh có lưu giữ Thánh Thể, luôn luôn phải có người coi sóc, và trong mức độ có thể, tư tế phải cử hành Thánh Lễ ở đấy ít nhất hai lần trong tháng.

Canon 934

§1 The blessed Eucharist:1° must be reserved in the cathedral church or its equivalent, in every parish church, and in the church or oratory attached to the house of a religious institute or society of apostolic life2° may be reserved in a Bishop’s chapel and, by permission of the local Ordinary, in other churches, oratories and chapels.
§2 In sacred places where the blessed Eucharist is reserved there must always be someone who is responsible for it, and as far as possible a priest is to celebrate Mass there at least twice a month.

Điều 935

Không ai được phép lưu giữ Mình Thánh Chúa tại nhà mình hoặc đem theo Mình Thánh Chúa khi đi đường, trừ khi có một nhu cầu mục vụ khẩn cấp và với điều kiện là phải giữ quy định của Giám Mục giáo phận.

Canon 935

It is not lawful for anyone to keep the blessed Eucharist in personal custody or to carry it around, unless there is an urgent pastoral need and the prescriptions of the diocesan Bishop are observed.

Điều 936

Trong nhà của một hội dòng hay trong một thiện xá nào khác, Thánh Thể chỉ được lưu giữ trong nhà thờ hoặc nhà nguyện chính thuộc nhà ấy mà thôi; tuy nhiên vì một lý do chính đáng, Đấng Bản Quyền có thể cho phép lưu giữ Thánh Thể cả trong một nhà nguyện khác thuộc nhà ấy.

Canon 936

In a house of a religious institute or other house of piety, the blessed Eucharist is to be reserved only in the church or principal oratory attached to the house. For a just reason, however, the Ordinary can permit it to be reserved also in another oratory of the same house.

Điều 937

Trừ khi có một lý do nghiêm trọng ngăn cản, nhà thờ nào có lưu giữ Thánh Thể, thì phải mở cửa cho tín hữu, ít là vài giờ trong ngày, để họ có thể cầu nguyện trước Mình Thánh.

Canon 937

Unless there is a grave reason to the contrary, a church in which the blessed Eucharist is reserved is to be open to the faithful for at least some hours every day, so that they can pray before the blessed Sacrament.

Điều 938

§1. Thường thường chỉ được lưu giữ Thánh Thể trong một nhà Tạm của nhà thờ hay nhà nguyện.
§2. Nhà Tạm có lưu giữ Thánh Thể phải được đặt tại một vị trí nổi bật và dễ thấy trong nhà thờ hay nhà nguyện, được trang hoàng mỹ thuật và thích hợp cho việc cầu nguyện.
§3. Nhà Tạm có lưu giữ Thánh Thể thường ngày phải bất di dịch, phải được làm bằng chất liệu chắc chắn không trong suốt và phải khóa kín để tránh tối đa mọi nguy cơ phạm thánh.
§4. Vì một lý do nghiêm trọng, Thánh Thể có thể được lưu giữ tại một nơi khác an toàn và tôn nghiêm hơn, nhất là ban đêm.
§5. Người nào coi sóc nhà thờ hay nhà nguyện, phải liệu sao để chìa khóa nhà Tạm có lưu giữ Thánh Thể được gìn giữ hết sức cẩn thận.

Canon 938

§1 The blessed Eucharist is to be reserved habitually in only one tabernacle of a church or oratory.
§2 The tabernacle in which the blessed Eucharist is reserved should be sited in a distinguished place in the church or oratory, a place which is conspicuous, suitably adorned and conducive to prayer.
§3 The tabernacle in which the blessed Eucharist is habitually reserved is to be immovable, made of solid and non-transparent material, and so locked as to give the greatest security against any danger of profanation.
§4 For a grave reason, especially at night, it is permitted to reserve the blessed Eucharist in some other safer place, provided it is fitting.
§5 The person in charge of a church or oratory is to see to it that the key of the tabernacle in which the blessed Eucharist is reserved, is in maximum safe keeping.

Điều 939

Bánh lễ đã được truyền phép phải được lưu giữ trong một bình thánh hay trong một bình với số lượng vừa đủ cho nhu cầu của tín hữu, và phải được thay mới thường xuyên, sau khi đã rước hết những bánh thánh cũ cách thích hợp.

Canon 939

Consecrated hosts, in a quantity sufficient for the needs of the faithful, are to be kept in a pyx or ciborium, and are to be renewed frequently, the older hosts having been duly consumed.

Điều 940

Trước nhà Tạm có lưu giữ Thánh Thể, phải thắp sáng một ngọn đèn đặc biệt, để biểu thị và tôn kính sự hiện diện của Đức Kitô.

Canon 940

A special lamp is to burn continuously before the tabernacle in which the blessed Eucharist is reserved, to indicate and to honour the presence of Christ.

Điều 941

§1. Trong các nhà thờ hoặc nhà nguyện được phép lưu giữ Thánh Thể, có thể đặt Mình Thánh để chầu, hoặc trong bình thánh hoặc trong Mặt Nhật, nhưng phải giữ những quy tắc đã được quy định trong các sách phụng vụ.
§2. Trong khi cử hành Thánh Lễ, không được đặt Mình Thánh để chầu trong cùng một nơi của nhà thờ hay nhà nguyện.

Canon 941

§1 In churches or oratories which are allowed to reserve the blessed Eucharist, there may be exposition, either with the pyx or with the monstrance, in accordance with the norms prescribed in the liturgical books.
§2 Exposition of the blessed Sacrament may not take place while Mass is being celebrated in the same area of the church or oratory.

Điều 942

Trong những nhà thờ và nhà nguyện nói trên, khuyên hằng năm nên tổ chức một buổi chầu Mình Thánh cách trọng thể trong một thời gian thích hợp, mặc dù không liên tục, để cộng đoàn địa phương suy niệm và tôn thờ mầu nhiệm Thánh Thể cách sâu xa hơn; tuy nhiên chỉ được tổ chức chầu Mình Thánh như thế, nếu biết trước là có đủ số tín hữu đến tham dự, nhưng vẫn phải giữ các quy tắc đã được quy định.

Canon 942

It is recommended that in these churches or oratories, there is to be each year a solemn exposition of the blessed Sacrament for an appropriate, even if not for a continuous time, so that the local community may more attentively meditate on and adore the eucharistic mystery. This exposition is to take place only if a fitting attendance of the faithful is foreseen, and the prescribed norms are observed.

Điều 943

Thừa tác viên đặt Mình Thánh để chầu và ban phép lành Thánh Thể là tư tế hay phó tế; trong những hoàn cảnh riêng, thừa tác viên giúp lễ, thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ hay một người nào khác được Đấng Bản Quyền địa phương ủy quyền, có thể đặt và cất Mình Thánh, chứ không ban phép lành, nhưng vẫn phải giữ những quy định của Giám Mục giáo phận.

Canon 943

The minister of exposition of the blessed Sacrament and of the eucharistic blessing is a priest or deacon. In special circumstances the minister of exposition and deposition alone, but without the blessing, is an acolyte, and extraordinary minister of holy communion, or another person deputed by the local Ordinary, in accordance with the regulations of the diocesan Bishop.

Điều 944

§1. ở đâu Giám Mục giáo phận xét là có thể, nên tổ chức một cuộc rước kiệu Thánh Thể qua các đường phố công cộng, nhất là trong những ngày lễ trọng kính Mình và Máu Đức Kitô, để công khai tỏ lòng tôn thờ Thánh Thể.
§2. Giám Mục giáo phận ấn định những nội quy về việc tham dự rước kiệu và về tính cách trang nghiêm của cuộc rước kiệu.

Canon 944

§1 Wherever in the judgement of the diocesan Bishop it can be done, a procession through the streets is to be held, especially on the solemnity of the Body and Blood of Christ, as a public witness of veneration of the blessed Eucharist.
§2 It is for the diocesan Bishop to establish such regulations about processions as will provide for participation in them and for their being carried out in a dignified manner. MASS

Điều 945

§1. Theo tục lệ đã được Giáo Hội chuẩn nhận, bất cứ tư tế nào cử hành hoặc đồng tế Thánh Lễ cũng có Thể nhận một bổng lễ để áp dụng lễ theo một ý chỉ nhất định.
§2. Rất khuyến khích các tư tế cử hành Thánh Lễ theo ý chỉ của các Kitô hữu, nhất là của những người nghèo túng, ngay cả khi không nhận bổng lễ.

Canon 945

§1 In accordance with the approved custom of the Church, any priest who celebrates or concelebrates a Mass may accept an offering to apply the Mass for a specific intention.
§2 It is earnestly recommended to priests that, even if they do not receive an offering, they celebrate Mass for the intentions of Christ’s faithful, especially of those in need.

Điều 946

Khi dâng bổng lễ để linh mục áp dụng lễ theo ý chỉ của mình, các Kitô hữu thông phần vào lợi ích của Giáo Hội, và bằng bổng lễ này, họ chia sẻ mối quan tâm của Giáo Hội trong việc nâng đỡ các thừa tác viên và các công việc của Giáo Hội.

Canon 946

The faithful who make an offering so that Mass can be celebrated for their intention, contribute to the good of the Church, and by that offering they share in the Church’s concern for the support of its ministers and its activities.

Điều 947

Phải tuyệt đối tránh mọi hình thức thương mại hay buôn bán trong vấn đề bổng lễ.

Canon 947

Even the semblance of trafficking or trading is to be entirely excluded from Mass offerings.

Điều 948

Phải áp dụng từng lễ riêng theo từng ý chỉ của mỗi người, một khi bổng lễ đã được dâng và đã được chấp nhận, dù là nhỏ mọn.

Canon 948

Separate Masses must be applied for the intentions of those for whom an individual offering, even if small, has been made and accepted. [The Congregation for the Clergy’s Decree Mos iugiter, 22.II.1991, forbids priests from combining offerings in a single celebration of Mass without the knowledge of those making the offerings. Subject to certain conditions such “collective” offerings are permitted where the donors have been explicitly informed beforehand and have agreed.] [See also Decree of the Dicastery for Clergy on the discipline of intentions of Holy Masses, 13.IV.2025]

Điều 949

Người nào buộc phải cử hành và áp dụng lễ theo ý chỉ của những người đã dâng bổng lễ, thì vẫn buộc phải chu toàn bổn phận đó, ngay cả khi mất hết bổng lễ đã nhận mà không do lỗi của mình.

Canon 949

One who is obliged to celebrate and apply Mass for the intentions of those who made an offering, is bound by this obligation even if the offering received is lost through no fault of his.

Điều 950

Nếu một số tiền được dâng để xin áp dụng lễ mà không định rõ số lễ phải cử hành, thì phải xác định số lễ này dựa vào giá bổng lễ đã được ấn định tại nơi người xin lễ ở, trừ khi ý của người xin lễ được suy đoán cách hợp thức là không phải như thế.

Canon 950

If a sum of money is offered for the application of Masses, but with no indication of the number of Masses to be celebrated, their number is to be calculated on the basis of the offering prescribed in the place where the donor resides, unless the donor’s intention must lawfully be presumed to have been otherwise.

Điều 951

§1. Tư tế cử hành nhiều Thánh Lễ trong cùng một ngày có thể áp dụng mỗi lễ theo một ý chỉ, vì đó là bổng lễ đã được dâng; tuy nhiên, trừ ngày lễ Giáng Sinh, tư tế phải giữ luật này là chỉ được hưởng bổng lễ của một Thánh Lễ mà thôi và phải dành những bổng lễ khác vào những mục đích đã được Đấng Bản Quyền ấn định; nhưng được nhận một phần thù lao nào đó với danh nghĩa ngoại tại.
§2. Tư tế đồng tế Thánh Lễ thứ hai trong cùng một ngày, thì không thể nhận thêm một bổng lễ nữa dưới bất cứ danh nghĩa nào.

Canon 951

§1 A priest who celebrates a number of Masses on the same day may apply each Mass for the intention for which an offering was made, subject however to the rule that, apart from Christmas Day, he may retain for himself the offering for only one Mass; the others he is to transmit to purposes prescribed by the Ordinary, while allowing for some compensation on the ground of an extrinsic title. [An Authentic Interpretation of canon 951
§1, 23.IV.1987, clarifies that the Ordinary referred to in this canon is the proper Ordinary of the celebrant, not the Ordinary of the place where the Mass is celebrated, except in the case of a parish priest or assistant priest]
§2 A priest who on the same day concelebrates a second Mass may not under any title accept an offering for that Mass.

Điều 952

§1. Công đồng giáo tỉnh hay hội nghị Giám Mục giáo tỉnh ra sắc lệnh ấn định mức tiền của bổng lễ phải dâng để cử hành và để áp dụng lễ cho toàn giáo tỉnh, và tư tế không được phép đòi một số tiền nhiều hơn nhưng ngài được phép nhận được một bổng lễ cao hơn mức đã được ấn định để áp dụng lễ, nếu người ta tự nguyện dâng bổng lễ ấy và cũng được phép nhận một bổng lễ thấp hơn.
§2. Ở đâu không có sắc lệnh như trên, thì phải giữ tục lệ hiện hành trong giáo phận.
§3. Các thành viên của bất cứ hội dòng nào cũng phải tôn trọng sắc lệnh ấy hoặc tục lệ địa phương được nói đến ở §
§1 và 2.

Canon 952

§1 The provincial council or the provincial Bishops’ meeting is to determine by decree, for the whole of the province, what offering is to be made for the celebration and application of Mass; and it is not lawful for a priest to ask for a greater amount. Nonetheless, it is permitted to accept, for the application of a Mass, an offering voluntarily made, which is greater, or even less, than that which has been determined.
§2 Where there is no such decree, the custom existing in the diocese is to be observed.
§3 Members of religious institutes of all kinds must abide by the decree or the local custom mentioned in §
§1 and 2.

Điều 953

Không ai được phép nhận bổng lễ để tự mình áp dụng lễ, nhiều đến nỗi không thể chỉ lễ hết trong vòng một năm.

Canon 953

No one may accept more offerings for Masses to be celebrated by himself than he can discharge within a year.

Điều 954

Nếu trong một số nhà thờ hoặc nhà nguyện nào đó, số Thánh Lễ xin cử hành vượt quá số Thánh Lễ có thể được cử hành ở đấy, thì số Thánh Lễ dư có thể được cử hành ở nơi khác, trừ khi những người xin lễ đã minh nhiên bày tỏ ý muốn trái ngược.

Canon 954

If in certain churches or oratories more Masses are requested than can be celebrated there, these may be celebrated elsewhere, unless the donors have expressly stipulated otherwise.

Điều 955

§1. Ai muốn trao cho những người khác việc cử hành Thánh Lễ phải áp dụng, thì phải trao việc cử hành Thánh Lễ ấy cho những tư tế mình muốn càng sớm càng tốt, miễn là mình biết rõ các vị đó không chút hồ nghi; phải chuyển nguyên bổng lễ nhận được, trừ khi biết chắc chắn số tiền vượt quá mức đã được ấn định trong giáo phận là cho cá nhân mình; và vẫn còn nghĩa vụ phải cử hành các Thánh lễ ấy cho đến khi có bằng chứng là đã có người nhận nhiệm vụ dâng lễ và bổng lễ.
§2. Thời hạn phải cử hành Thánh Lễ bắt đầu từ ngày tư tế nhận cử hành các Thánh Lễ ấy, trừ khi đã thấy rõ cách khác.
§3. Ai trao những Thánh Lễ phải cử hành cho những người khác, thì phải ghi ngay vào sổ cả số lễ đã nhận, lẫn số lễ đã trao cho những người khác, cũng ghi luôn số tiền của những bổng lễ ấy.
§4. Bất cứ tư tế nào cũng phải ghi cẩn thận những Thánh Lễ mình đã nhận cử hành cũng như những Thánh Lễ mình đã cử hành rồi.

Canon 955

§1 One who intends to transfer to others the celebration of Masses to be applied, is to transfer them as soon as possible to priests of his own choice, provided he is certain that they are of proven integrity. He must transfer the entire offering received, unless it is quite certain that an amount in excess of the diocesan offering was given as a personal gift. Moreover, it is his obligation to see to the celebration of the Masses until such time as he has received evidence that the obligation has been undertaken and the offering received.
§2 Unless it is established otherwise, the time within which Masses are to be celebrated begins from the day the priest who is to celebrate them receives them.
§3 Those who transfer to others Masses to be celebrated are without delay to record in a book both the Masses which they have accepted and those which they have passed on, noting also the offerings for these Masses.
§4 Each priest must accurately record the Masses which he has accepted to celebrate and those which he has in fact celebrated.

Điều 956

Tất cả và từng người quản trị các việc nhằm mục tiêu đạo đức hoặc những người bị buộc cách nào đó phải chăm lo việc cử hành Thánh Lễ, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đều phải chuyển cho Đấng bản quyền của mình những ý lễ đã không làm xong trong một năm, theo thể thức do các vị ấy ấn định.

Canon 956

Each and every administrator of pious causes and those, whether clerics or lay persons, who are in any way obliged to provide for the celebration of Masses, are to transfer to their Ordinaries, in a manner to be determined by the latter, such Mass obligations as have not been discharged within a year.

Điều 957

Trong các nhà thờ thuộc giáo sĩ triều, nhiệm vụ và quyên chăm lo việc chu toàn các ý lễ thuộc về Đấng Bản Quyền địa phương; còn trong các nhà thờ thuộc những hội dòng hay tu đoàn tông đồ, thì nhiệm vụ và quyền ấy thuộc về các Bề Trên của hội dòng hay tu đoàn.

Canon 957

The duty and the right to see that Mass obligations are fulfilled belongs, in the case of churches of the secular clergy, to the local Ordinary; in the case of churches of religious institutes or societies of apostolic life, to their Superiors.

Điều 958

§1. Cha sở và cha quản nhiệm một nhà thờ hay một nơi thánh khác thường hay nhận bổng lễ, phải có một sổ riêng trong đó phải ghi cẩn thận số Thánh Lễ phải cử hành, ý chỉ, bổng lễ và những Thánh Lễ đã làm xong.
§2. Đấng Bản Quyền phải đích thân hoặc nhờ người khác kiểm soát mỗi năm những sổ lễ đó.

Canon 958

§1 The parish priest, as well as the rector of a church or other pious place in which Mass offerings are usually received, is to have a special book in which he is accurately to record the number, the intention and the offering of the Masses to be celebrated, and the fact of their celebration.
§2 The Ordinary is obliged to inspect these books each year, either personally or through others.

Điều 959

Trong bí tích sám hối, các tín hữu nào thú tội với mình với một thừa tác viên hợp pháp, ăn năn về những tội ấy và quyết tâm sửa mình, thì nhờ việc xá giải do chính thừa tác viên ấy ban, họ được Thiên Chúa tha thứ các tội đã phạm sau khi chịu phép rửa tội, và đồng thời được hòa giải với Giáo Hội mà họ đã làm tổn thương khi phạm tội.

Canon 959

In the sacrament of penance the faithful who confess their sins to a lawful minister, are sorry for those sins and have a purpose of amendment, receive from God, through the absolution given by that minister, forgiveness of sins they have committed after baptism, and at the same time they are reconciled with the Church, which by sinning they wounded.

Điều 960

Việc xưng tội riêng và xưng tội đầy đủ cùng với việc xá giải tạo thành phương cách thông thường duy nhất, nhờ đó một tín hữu ý thức mình có tội trọng được hòa giải với Thiên Chúa và với Giáo Hội; chỉ có sự bất lực thể lý hay luân lý mới miễn chuẩn việc xưng tội như trên, trong trường hợp này, việc hòa giải cũng có thể được thực hiện bằng những cách khác.

Canon 960

Individual and integral confession and absolution constitute the sole ordinary means by which a member of the faithful who is conscious of grave sin is reconciled with God and with the Church. Physical or moral impossibility alone excuses from such confession, in which case reconciliation may be attained by other means also.

Điều 961

§1. Không thể ban ơn xá giải chung cho nhiều hối nhân cùng một lúc, nếu mỗi cá nhân không thú tội trước, trừ:1° trường hợp nguy tử sắp xảy ra và không đủ thời giờ cho một hay nhiều tư tế nghe từng hối nhân xưng tội;2° trường hợp có nhu cầu nghiêm trọng, nghĩa là khi có đông hối nhân mà không có đủ cha giải tội để nghe từng người xưng tội đúng cách trong một thời gian thích hợp, đến nỗi các hối nhân không được lãnh ơn của bí tích hoặc không được rước lễ trong thời gian lâu dài mà không do lỗi của họ, tuy nhiên, không được coi là có nhu cầu đủ, khi không có sẵn cha giải tội chỉ vì có đông hối nhân như có thể xảy ra trong một ngày lễ lớn hoặc trong một cuộc hành hương lớn nào đó.
§2. Việc nhận định xem những điều kiện cần thiết chiếu theo quy tắc của
§1, 20 có hay không là thuộc về Giám Mục giáo phận; ngài có thể xác định những trường hợp có nhu cầu như thế, dựa vào những tiêu chuẩn đã được thỏa thuận chung với các thành viên khác của Hội Đồng Giám Mục.

Canon 961

§1 General absolution, without prior individual confession, cannot be given to a number of penitents together, unless:1° danger of death threatens and there is not time for the priest or priests to hear the confessions of the individual penitents;2° there exists a grave necessity, that is, given the number of penitents, there are not enough confessors available properly to hear the individual confessions within an appropriate time, so that without fault of their own the penitents are deprived of the sacramental grace or of holy communion for a lengthy period of time. A sufficient necessity is not, however, considered to exist when confessors cannot be available merely because of a great gathering of penitents, such as can occur on some major feastday or pilgrimage.
§2 It is for the diocesan Bishop to judge whether the conditions required in
§1, n. 2 are present; mindful of the criteria agreed with the other members of the Episcopal Conference, he can determine the cases of such necessity. [An Explanatory Note of the Dicastery for Legislative Texts, 8.IX.1996, clarifies that general absolution without prior individual confession is strictly an exceptional provision permitted only in cases where physical or moral impossibility makes individual confession truly unattainable (such as imminent danger of death or another grave necessity). The bishop alone must judge whether the strict conditions for such exceptional general absolution are met, and those who receive it must still intend to make an individual confession as soon as possible] [The m.p. Misericordia Dei, 7.IV.2002, further specifies the conditions required in
§1, n. 2, and forbids the artificial creation of situations of “grave necessity”]

Điều 962

§1. Để hưởng nhờ hữu hiệu ơn xá giải bí tích được ban cùng một lúc cho nhiều người, người kitô hữu không những phải được chuẩn bị đầy đủ, mà đồng thời còn phải quyết tâm là sẽ đi xưng tội riêng vào thời gian thích hợp, về các tội trọng mà hiện tại họ không thể xứng thú như vậy được.
§2. Trong mức độ có thể, ngay vào dịp lãnh nhận một ơn xá giải chung, các Kitô hữu phải được dạy cho biết những điều kiện buộc phải có chiếu theo quy tắc của
§1, và kể cả trong trường hợp nguy tử, nếu còn thời giờ, thì phải khuyên bảo trước khi xá tội chung, để mỗi người lo giục lòng ăn năn sám hối.

Canon 962

§1 For a member of Christ’s faithful to benefit validly from a sacramental absolution given to a number of people simultaneously, it is required not only that he or she be properly disposed, but be also at the same time personally resolved to confess in due time each of the grave sins which cannot for the moment be thus confessed.
§2 Christ’s faithful are to be instructed about the requirements set out in
§1, as far as possible even on the occasion of general absolution being received. An exhortation that each person should make an act of contrition is to precede a general absolution, even in the case of danger of death if there is time.

Điều 963

Miễn là vẫn giữ nguyên nghĩa vụ được nói đến ở điều 989, nguời nào được tha các tội trọng nhờ một ơn xá giải chung, thì phải đi xưng tội riêng sớm hết sức khi có dịp, trước khi lãnh nhận ơn xá tội chung một lần khác, trừ khi có một lý do chính đáng can thiệp vào.

Canon 963

Without prejudice to the obligation mentioned in can. 989, a person whose grave sins are forgiven by a general absolution, is as soon as possible, when the opportunity occurs, to make an individual confession before receiving another general absolution, unless a just reason intervenes.

Điều 964

§1. Nơi thừơng ban bí tích Sám Hối là nhà thờ hay nhà nguyện.
§2. Về tòa giải tội thì Hội đồng Giám Mục phải ấn định những quy tắc, nhưng phải dự liệu đặt các tòa giải tội ở một nơi dễ thấy, các tòa này phải có một chấn song ngăn cách hối nhân với cha giải tội, và các tín hữu nào muốn thì có thể tự do đến tòa giải tội.
§3. Không được giải tội ở ngoài tòa giải tội, trừ khi có một lý do chính đáng.

Canon 964

§1 The proper place for hearing sacramental confessions is a church or oratory.
§2 As far as the confessional is concerned, norms are to be issued by the Episcopal Conference, with the proviso however that confessionals, which the faithful who so wish may freely use, are located in an open place, and fitted with a fixed grille between the penitent and the confessor. [An Authentic Interpretation of canon 964
§2, 7.VII.1998, allows the minister of the sacrament to require the use of a fixed grille even if the penitent requests otherwise]
§3 Except for a just reason, confessions are not to be heard elsewhere than in a confessional.

Điều 965

Chỉ có tư tế là thừa tác viên bí tích Sám Hối.

Canon 965

Only a priest is the minister of the sacrament of penance.

Điều 966

§1. Để giải tội thành sự, ngoài quyền thánh chức, thừa tác viên buộc phải có năng quyền thi hành quyền thánh chức ấy đối với các tín hữu mà ngài ban ơn xá giải.
§2. Tư tế có thể có năng quyền này, hoặc chiếu theo chính luật, hoặc do nhà chức trách có thẩm quyền ban chiếu theo quy tắc của điều 969.

Canon 966

§1 For the valid absolution of sins, it is required that, in addition to the power of order, the minister has the faculty to exercise that power in respect of the faithful to whom he gives absolution.
§2 A priest can be given this faculty either by the law itself, or by a concession issued by the competent authority in accordance with can. 969.

Điều 967

§1. Ngoài Đức Giáo Hoàng ra, các vị Hồng Y đương nhiên có năng quyền giải tội cho các tín hữu ở khắp nơi trên thế giới; cũng vậy, các Giám Mục thi hành năng quyền ấy cách hợp thức ở khắp nơi, trừ khi Giám Mục giáo phận từ chối điều đó trong một trường hợp đặc biệt.
§2. Những vị có năng quyền giải tội thường xuyên chiếu theo chức vụ hoặc do Đấng Bản Quyền địa phương nơi nhập tịch hoặc nơi mình cư ngụ ban, có thể thi hành năng quyền ấy ở khắp nơi, trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương từ chối điều đó trong một trường hợp đặc biệt, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 974 §
§2 và 3.
§3. Những vị nào có năng quyền giải tội chiếu theo chức vụ hoặc do Bề Trên có thẩm quyền ban chiếu theo quy tắc của điều 968
§2 và 969
§2, thì đương nhiên có quyền ấy ở khắp nơi đối với các thành viên của hội dòng hay của tu đoàn mình, cũng như đối với những người khác ngày đêm cư ngụ tại một trong các nhà của hội dòng hay tu đoàn; những vị ấy sử dụng hợp thức năng quyền này, trừ khi một Bề Trên cấp cao từ chối điều đó đối với những người thuộc quyền ngài, trong một trường hợp đặc biệt.

Canon 967

§1 Besides the Roman Pontiff, Cardinals by virtue of the law itself have the faculty to hear the confessions of Christ’s faithful everywhere. Likewise, Bishops have this faculty, which they may lawfully use everywhere, unless in a particular case the diocesan Bishop has refused.
§2 Those who have the faculty habitually to hear confessions, whether by virtue of their office or by virtue of a concession by the Ordinary of either the place of incardination or that in which they have a domicile, can exercise that faculty everywhere, unless in a particular case the local Ordinary has refused, without prejudice to the provisions of can. 974 §
§2 and 3.
§3 In respect of the members and of those others who live day and night in a house of an institute or society, this same faculty is by virtue of the law itself possessed everywhere by those who have the faculty to hear confessions, whether by virtue of their office or by virtue of a special concession of the competent Superior in accordance with cann. 968
§2 and 969
§2. They may lawfully use this faculty, unless in a particular case some major Superior has, in respect of his own subjects, refused.

Điều 968

§1. Chiếu theo chức vụ, Đấng Bản Quyền địa phương, vị kinh sĩ xá giải, cũng như cha sở và những người thay quyền cha sở đều có năng quyền giải tội, và mỗi người trong quyền hạn của mình.
§2. Chiếu theo chức vụ, Bề Trên các hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng hoặc các tu đoàn tông đồ giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng có quyền hành pháp trong việc lãnh đạo chiếu theo quy tắc của hiến pháp, thì có năng quyền giải tội cho các người thuộc quyền mình và cho những người khác ngày đêm cư ngụ trong nhà mình, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 630
§4.

Canon 968

§1 By virtue of his office, for each within the limits of his jurisdiction, the faculty to hear confessions belongs to the local Ordinary, to the canon penitentiary, to the parish priest, and to those others who are in the place of the parish priest.
§2 By virtue of their office, the faculty to hear the confessions of their own subjects and of those others who live day and night in the house, belongs to the Superiors of religious institutes or of societies of apostolic life, if they are clerical and of pontifical right, who in accordance with the constitutions have executive power of governance, without prejudice however to the provision of can. 630
§4.

Điều 969

§1. Chỉ Đấng Bản Quyền địa phương có thẩm quyền ban cho bất cứ linh mục nào năng quyền giải tội cho bất cứ tín hữu nào, nhưng những linh mục là thành viên của một hội dòng không được dùng năng quyền ấy khi không có phép ít là được suy đoán của Bề Trên mình.
§2. Bề Trên của hội dòng hoặc của một tu đoàn tông đồ được nói đến ở điều 968
§2, có thẩm quyền ban cho bất cứ linh mục nào năng quyền giải tội cho các người thuộc quyền mình và các người khác ngày đêm cư ngụ trong nhà mình.

Canon 969

§1 Only the local Ordinary is competent to give to any priests whomsoever the faculty to hear the confessions of any whomsoever of the faithful. Priests who are members of religious institutes may not, however, use this faculty without the permission, at least presumed, of their Superior.
§2 The Superior of a religious institute or of a society of apostolic life, mentioned in can. 968
§2, is competent to give to any priests whomsoever the faculty to hear the confessions of his own subjects and of those others who live day and night in the house.

Điều 970

Chỉ được ban năng quyền giải tội cho những linh mục nào đã được công nhận là có khả năng xứng hợp qua một cuộc khảo hạch hoặc khi đã biết rõ khả năng của họ bằng cách khác.

Canon 970

The faculty to hear confessions is not to be given except to priests whose suitability has been established, either by examination or by some other means.

Điều 971

Đấng Bản Quyền địa phương không được ban năng quyền giải tội thường xuyên cho một linh mục, dù linh mục ấy có cư sở hay bán cơ sở thuộc quyền hạn mình, nếu trước đó không tham khảo ý kiến Đấng Bản Quyền của linh mục ấy, trong mức độ có thể.

Canon 971

The local Ordinary is not to give the faculty habitually to hear confessions to a priest, even to one who has a domicile or quasi-domicile within his jurisdiction, without first, as far as possible, consulting that priest’s own Ordinary.

Điều 972

Nhà chức trách có thẩm quyền được nói đến ở điều 969 có thể ban năng quyền giải tội cho một thời gian hoặc vô hạn hoặc hữu hạn.

Canon 972

The faculty to hear confessions may be given by the competent authority mentioned in can. 969, for either an indeterminate or a determinate period of time.

Điều 973

Năng quyền giải tội thường xuyên phải được ban bằng văn bản.

Canon 973

The faculty habitually to hear confessions is to be given in writing.

Điều 974

§1. Đấng Bản Quyền địa phương cũng như Bề Trên có thẩm quyên không được thu hồi năng quyền giải tội thường xuyên đã được ban, trừ khi có lý do quan trọng.
§2. Khi năng quyền giải tội bị Đấng Bản Quyền địa phương đã ban năng quyền được nói đến ở điều 967
§2 thu hồi, thì linh mục mất năng quyền ấy ở bất cứ nơi nào; còn khi năng quyền giải tội bị một Đấng Bản Quyền địa phương nào khác thu hồi, thì linh mục chỉ mất năng quyền ấy trong địa hạt của Đấng Bản Quyền đã thu hồi năng quyền.
§3. Bất cứ Đấng Bản Quyền địa phương nào đã thu hồi năng quyền giải tội của một linh mục, thì phải báo cho Đấng Bản Quyền riêng tại nơi linh mục ấy đã nhập tịch, nhưng nếu là thành viên của một hội dòng, thì phải báo cho Bề Trên có thẩm quyền của đương sự.
§4. Khi bị Bề Trên cấp cao của mình thu hồi năng quyền giải tội, thì linh mục mất năng quyền ấy ở khắp nơi đối với các thành viên của hội dòng; nhưng khi một Bề Trên có thẩm quyền khác thu hồi năng quyền giải tội, thì linh mục chỉ mất năng quyền ấy đối với các thành viên thuộc quyền hạn của Bề Trên đó.

Canon 974

§1 Neither the local Ordinary nor the competent Superior may, except for a grave reason, revoke the grant of a faculty habitually to hear confessions.
§2 If the faculty to hear confessions granted by the local Ordinary mentioned in can. 967
§2, is revoked by that Ordinary, the priest loses the faculty everywhere. If the faculty is revoked by another local Ordinary, the priest loses it only in the territory of the Ordinary who revokes it.
§3 Any local Ordinary who has revoked a priest’s faculty to hear confessions is to notify the Ordinary who is proper to that priest by reason of incardination or, if the priest is a member of a religious institute, his competent Superior.
§4 If the faculty to hear confessions is revoked by his own major Superior, the priest loses everywhere the faculty to hear the confessions of the members of the institute. But if the faculty is revoked by another competent Superior, the priest loses it only in respect of those subjects who are in that Superior’s jurisdiction.

Điều 975

Ngoài trường hợp bị thu hồi, năng quyền được nói đến ở điều 967
§2 chấm dứt do việc mất giáo vụ, do xuất tịch và còn do mất cư sở.

Canon 975

Apart from revocation, the faculty mentioned in can. 967
§2 ceases by loss of office, by excardination, or by loss of domicile.

Điều 976

Cho dù không có năng quyền giải tội, bất cứ tư tế nào cũng giải hết mọi vạ và mọi tội cách thành sự và hợp thức cho mọi hối nhân lâm cơn nguy tử, mặc dầu có sự hiện diện của một tư tế được chuẩn nhận.

Canon 976

Any priest, even though he lacks the faculty to hear confessions, can validly and lawfully absolve any penitents who are in danger of death, from any censures and sins, even if an approved priest is present.

Điều 977

Giải tội phạm điều răn thứ sáu cho người đồng lõa thì bất thành, trừ trường hợp nguy tử.

Canon 977

The absolution of a partner in a sin against the sixth commandment of the Decalogue is invalid, except in danger of death.

Điều 978

§1. Khi giải tội, tư tế phải nhớ rằng nhiệm vụ của mình vừa là thẩm phán vừa là lương y, và đồng thời mình đã được Thiên Chúa đặt làm thừa tác viên của công lý và lòng nhân hậu của Chúa, để làm vinh danh Thiên Chúa và cứu độ các linh hồn.
§2. Với tư cách là thừa tác viên của Giáo Hội, khi ban bí tích, cha giải tội phải trung thành theo sát giáo huấn của huấn quyền và những quy tắc do nhà chức trách có thẩm quyền thiết lập.

Canon 978

§1 In hearing confessions the priest is to remember that he is at once both judge and healer, and that he is constituted by God as a minister of both divine justice and divine mercy, so that he may contribute to the honour of God and the salvation of souls.
§2 In administering the sacrament, the confessor, as a minister of the Church, is to adhere faithfully to the teaching of the magisterium and to the norms laid down by the competent authority.

Điều 979

Khi đặt những câu hỏi, tư tế phải tiến hành cách khôn ngoan và kín đáo, phải lưu ý đến địa vị và tuổi tác của hối nhân và phải tránh đừng hỏi tên người đồng lõa.

Canon 979

In asking questions the priest is to act with prudence and discretion, taking into account the condition and the age of the penitent, and he is to refrain from enquiring the name of a partner in sin.

Điều 980

Nếu cha giải tội không hồ nghi về sự chuẩn bị của hối nhân, và nếu hối nhân xin xưng tội, thì ngài không được từ chối và cũng không được hoãn ban ơn xá giải.

Canon 980

If the confessor is in no doubt about the penitent’s disposition and the penitent asks for absolution, it is not to be denied or delayed.

Điều 981

Cha giải tội phải ra việc đền tội hữu ích và thích hợp cho hối nhân, tùy theo bản chất và số tội, nhưng phải lưu ý đến hoàn cảnh của hối nhân; chính hối nhân buộc phải tự mình thực hiện việc đền tội.

Canon 981

The confessor is to impose salutary and appropriate penances, in proportion to the kind and number of sins confessed, taking into account, however, the condition of the penitent. The penitent is bound personally to fulfil these penances.

Điều 982

Người nào thú nhận là mình đã cáo gian với nhà chức trách Giáo Hội một cha giải tội vô tội đã dụ dỗ phạm tội nghịch điều răn thứ sáu của Thập Giới, thì chỉ được xá giải nếu trước đó đương sự đã chính thức rút lại lời cáo gian ấy và sẵn lòng đền bù những thiệt hại, nếu có.

Canon 982

A person who confesses to having falsely denounced to ecclesiastical authority a confessor innocent of the crime of solicitation to a sin against the sixth commandment of the Decalogue, is not to be absolved unless that person has first formally withdrawn the false denunciation and is prepared to make good whatever harm may have been done.

Điều 983

§1. Ấn tín bí tích là điều bất khả xâm phạm, vì thế, tuyệt đối cấm cha giải tội không được tiết lộ hối nhân bằng lời nói hay bằng cách nào khác, và vì bất cứ lý do gì.
§2. Thông dịch viên, nếu có, và tất cả mọi người đã biết được tội bằng bất cứ cách nào, do việc thú tội, cũng đều buộc phải giữ bí mật.

Canon 983

§1 The sacramental seal is inviolable. Accordingly, it is absolutely wrong for a confessor in any way to betray the penitent, for any reason whatsoever, whether by word or in any other fashion.
§2 An interpreter, if there is one, is also obliged to observe this secret, as are all others who in any way whatever have come to a knowledge of sins from a confession. [See the offences in the revised can. 1386] [See also Apostolic Penitentiary, Note on the Internal Forum and the Inviolability of the Sacramental Seal, 29.VI.2019, on the sacramental seal, the internal extra-sacramental forum and spiritual direction, and secrets and other limits inherent to communication]

Điều 984

§1. Tuyệt đối cấm cha giải tội, dùng những kiến thức biết được trong lúc giải tội để làm hại hối nhân, mặc dù không có nguy cơ tiết lộ nào.
§2. Người cầm quyền không thể dùng những kiến thức biết được bất cứ lúc nào do việc giải tội, để lãnh đạo ở tòa ngoài, bằng bất cứ cách nào.

Canon 984

§1 The confessor is wholly forbidden to use knowledge acquired in confession to the detriment of the penitent, even when all danger of disclosure is excluded.
§2 A person who is in authority may not in any way, for the purpose of external governance, use knowledge about sins which has at any time come to him from the hearing of confession.

Điều 985

Vị giáo tập và cộng sự viên của mình, giám đốc của chủng viện hoặc của một cơ sở giáo dục khác, không được giải tội cho học sinh cư ngụ trong nhà mình, trừ khi những học sinh ấy tự nguyện xin điều đó trong những trường hợp đặc biệt.

Canon 985

The director and assistant director of novices, and the rector of a seminary or of any other institute of education, are not to hear the sacramental confessions of their students resident in the same house, unless in individual instances the students of their own accord request it.

Điều 986

§1. Những vị có nhiệm vụ coi sóc linh hồn buộc phải liệu sao cho những tín hữu đã được trao cho mình được xưng tội, mỗi khi họ xin cách hợp lý, và phải tạo cơ hội cho họ đến xưng tội riêng bằng cách ấn định ngày giờ thuận tiện cho họ.
§2. Trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp, bất cứ cha giải tội nào, và trong trường hợp nguy tử, thì bất cứ tư tế nào cũng buộc phải giải tội cho Kiô hữu.

Canon 986

§1 All to whom by virtue of office the care of souls is committed, are bound to provide for the hearing of the confessions of the faithful entrusted to them, who reasonably request confession, and they are to provide these faithful with an opportunity to make individual confession on days and at times arranged to suit them.
§2 In an urgent necessity, every confessor is bound to hear the confessions of Christ’s faithful, and in danger of death every priest is so obliged.

Điều 987

Để hưởng nhờ phương dược cứu độ của bí tích Sám Hối, người Kitô hữu phải được chuẩn bị thế nào để trở về với Thiên Chúa bằng cách từ bỏ các tội đã phạm và quyết tâm sửa mình.

Canon 987

In order that the faithful may receive the saving remedy of the sacrament of penance, they must be so disposed that, repudiating the sins they have committed and having the purpose of amending their lives, they turn back to God.

Điều 988

§1. Sau khi đã xét mình kỹ lưỡng và ý thức được tội của mình, người Kitô hữu buộc phải xưng các loại tội trọng và số tội trọng đã phạm sau khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, mà chưa được quyền tháo gỡ của Giáo Hội tha trực tiếp và họ chưa xưng trong lần xưng tội riêng.
§2. Khuyên các Kitô hữu cũng xưng cả những tội nhẹ nữa.

Canon 988

§1 The faithful are bound to confess, in kind and in number, all grave sins committed after baptism, of which after careful examination of conscience they are aware, which have not yet been directly pardoned by the keys of the Church, and which have not been confessed in an individual confession.
§2 The faithful are recommended to confess also venial sins.

Điều 989

Mọi tín hữu, sau khi đến tuổi khôn, buộc phải xưng các tội trọng của mình một cách trung thực, một năm ít là một lần.

Canon 989

All the faithful who have reached the age of discretion are bound faithfully to confess their grave sins at least once a year.

Điều 990

Không cấm xưng tội qua một thông dịch viên, nhưng phải tránh những lạm dụng và gương xấu, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 983
§2.

Canon 990

No one is forbidden to confess through an interpreter, provided however that abuse and scandal are avoided, and without prejudice to the provision of can. 983
§2.

Điều 991

Mọi Kitô hữu có trọn quyền xưng tội với cha giải tội nào đã được chuẩn nhận cách hợp thức mà mình thích, mặc dầu vị ấy thuộc một lễ điển khác.

Canon 991

All Christ’s faithful are free to confess their sins to lawfully approved confessors of their own choice, even to one of another rite.

Điều 992

Ân xá là việc tha trước mặt Thiên Chúa hình phạt tạm thời phải chịu vì các tội đã được xóa bỏ; Kitô hữu nào đã được chuẩn bị đầy đủ và đã thực hiện một số điều kiện đã được ấn định, thì được hưởng ơn tha thứ này nhờ sự trợ giúp của Giáo Hội; với tư cách là thừa tác viên ơn cứu chuộc, Giáo Hội dùng quyền mình để phân phát và áp dụng kho tàng đền tội của Đức Kitô và các thánh.

Canon 992

An indulgence is the remission in the sight of God of the temporal punishment due for sins, the guilt of which has already been forgiven. A member of Christ’s faithful who is properly disposed and who fulfils certain specific conditions, may gain an indulgence by the help of the Church which, as the minister of redemption, authoritatively dispenses and applies the treasury of the merits of Christ and the Saints.

Điều 993

Ân xá gồm có tiểu xá hoặc toàn xá, tùy theo ân xá tha một phần hay tha tất cả hình phạt tạm thời phải chịu vì tội.

Canon 993

An indulgence is partial or plenary according as it partially or wholly frees a person from the temporal punishment due for sins.

Điều 994

Bất cứ tín hữu nào cũng có thể hưởng ơn tiểu xá hoặc ơn toàn xá, hoặc cho chính mình, hoặc dành cho những người đã qua đời.

Canon 994

All members of the faithful can gain indulgences, partial or plenary, for themselves, or they can apply them by way of suffrage to the dead.

Điều 995

§1. Ngoài quyền bính tối cao của Giáo Hội, chỉ những vị nào được luật công nhận là có quyền, hoặc được Đức Giáo Hoàng Rôma ban quyền, mới có thể ban phát các ân xá.
§2. Không một quyền bính nào dưới quyền Đức Giáo Hoàng Rôma có thể trao cho người khác quyền ban ân xá, trừ khi được Tông Tòa minh nhiên ban cho quyền ấy.

Canon 995

§1 Apart from the supreme authority in the Church, only those can grant indulgences to whom this power is either acknowledged in the law, or given by the Roman Pontiff.
§2 No authority below the Roman Pontiff can give to others the faculty of granting indulgences, unless this authority has been expressly given to the person by the Apostolic See.

Điều 996

§1. Để có thể hưởng ân xá, đương sự phải là người được Rửa Tội, không bị vạ tuyệt thông và sống trong tình trạng ân sủng, ít là vào lúc kết thúc các công việc đã được quy định.
§2. Tuy nhiên, để có thể hưởng ân xá, đương sự phải có ý hướng ít là tổng quát muốn thủ đắc các ân xá và phải chu toàn những việc buộc phải làm trong thời gian đã được ấn định và với cách thức đã được quy định, theo tinh thần của việc ban ân xá.

Canon 996

§1 To be capable of gaining indulgences a person must be baptised, not excommunicated, and in the state of grace at least on the completion of the prescribed work.
§2 To gain them, however, the person who is capable must have at least the intention of gaining them, and must fulfil the prescribed works at the time and in the manner determined by the terms of the grant.

Điều 997

Về việc ban và hưởng ân xá, còn phải giữ các quy định khác trong luật riêng của Giáo Hội.

Canon 997

As far as the granting and the use of indulgences is concerned, the other provisions contained in the special laws of the Church must also be observed.

Điều 998

Qua bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, Giáo Hội phó thác những tín hữu bệnh tật hiểm nghèo cho Chúa chịu nạn và vinh quang để Người nâng đỡ và cứu chữa họ; bí tích này được ban bằng việc xức dầu trên bệnh nhân và đọc những lời đã được quy định trong sách phụng vụ.

Canon 998

The anointing of the sick, by which the Church commends to the suffering and glorified Lord the faithful who are dangerously ill so that he may support and save them, is conferred by anointing them with oil and pronouncing the words prescribed in the liturgical books.

Điều 999

Ngoài Giám Mục, những người sau đây có thể làm phép dầu để dùng vào việc xức dầu bệnh nhân;1° những vị được luật đồng hóa với Giám Mục giáo phận;2° trong trường hợp khẩn cấp, bất cứ linh mục nào nhưng trong chính lúc cử hành bí tích mà thôi.

Canon 999

The oil to be used in the anointing of the sick can be blessed not only by a Bishop but also by:1° those who are in law equivalent to the diocesan Bishop;2° in a case of necessity, any priest but only in the actual celebration of the sacrament.

Điều 1000

§1. Việc xức dầu phải được thực hiện cẩn thận với những lời đọc, theo thứ tự và theo thể thức đã được quy định trong các sách phụng vụ; nhưng trong trường hợp cần thiết, chỉ cần một lần xức dầu trên trán hoặc thậm chí trên một phần khác của thân thể, nhưng vẫn phải đọc trọn vẹn công thức.
§2. Thừa tác viên phải xức dầu bằng chính tay mình, trừ khi có một lý do nghiêm trọng khuyên dùng một dụng cụ.

Canon 1000

§1 The anointings are to be carried out accurately, with the words and in the order and manner prescribed in the liturgical books. In a case of necessity, however, a single anointing on the forehead, or even on another part of the body, is sufficient while the full formula is recited.
§2 The minister is to anoint with his own hand, unless a grave reason indicates the use of an instrument.

Điều 1001

Các vị chủ chăn các linh hồn và các thân nhân của bệnh nhân phải liệu sao cho các bệnh nhân được lãnh nhận sợ trợ lực của bí tích này vào lúc thuận tiện.

Canon 1001

Pastors of souls and those who are close to the sick are to ensure that the sick are helped by this sacrament in good time.

Điều 1002

Có thể xức dầu chung cho nhiều bệnh nhân cùng một lúc, theo các quy định của Giám Mục giáo phận nếu họ đã được chuẩn bị chu đáo và đã dọn mình đầy đủ.

Canon 1002

The communal celebration of anointing of the sick, for a number of the sick together, who have been appropriately prepared and are rightly disposed, may be held in accordance with the regulations of the diocesan Bishop.

Điều 1003

§1. Tất cả mọi tư tế và chỉ có tư tế mới ban thành sự bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân.
§2. Tất cả mọi tư tế được ủy nhiệm coi sóc các linh hồn có bổn phận và có quyền ban bí tích Xức dầu Bệnh Nhân cho những tín hữu được ủy thác cho trách nhiệm mục vụ của mình; khi có một lý do hợp lý, bất cứ tư tế nào cũng có thể ban bí tích này với sự chấp thuận ít là được suy đoán của tư tế vừa được nói ở trên.
§3. Bất cứ tư tế nào cũng được mang theo dầu đã được làm phép, để có thể ban bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân trong trường hợp cần thiết.

Canon 1003

§1 Every priest, but only a priest, can validly administer the anointing of the sick. [A Note on the Minister of the Sacrament of the Anointing of the Sick, 11.II.2005, issued by the Congregation for the Doctrine of the Faith, states that the doctrine that only bishops and priests are ministers of the sacrament is definitive tenenda: neither deacons nor lay persons may administer the sacrament]
§2 All priests to whom has been committed the care of souls, have the obligation and the right to administer the anointing of the sick to those of the faithful entrusted to their pastoral care. For a reasonable cause, any other priest may administer this sacrament if he has the consent, at least presumed, of the aforementioned priest.
§3 Any priest may carry the holy oil with him, so that in a case of necessity he can administer the sacrament of anointing of the sick.

Điều 1004

§1. Có thể ban Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân cho tín hữu đã biết sử dụng trí khôn, khi họ bắt đầu ở trong tình trạng hiểm nghèo vì bệnh tật hay vì tuổi già.
§2. Bí tích này có thể được ban lại, nếu sau khi hồi phục, bệnh nhân lại ngã bệnh nặng, hoặc nếu nguy cơ trở nên nghiêm trọng hơn trong cùng một cơn bệnh kéo dài.

Canon 1004

§1 The anointing of the sick can be administered to any member of the faithful who, having reached the use of reason, begins to be in danger of death by reason of illness or old age.
§2 This sacrament can be repeated if the sick person, having recovered, again becomes seriously ill or if, in the same illness, the danger becomes more serious.

Điều 1005

Phải ban bí tích này trong trường hợp hồ nghi bệnh nhân đã biết sử dụng trí khôn hay chưa, bệnh có hiểm nghèo hay không hoặc bệnh nhân đã chết hay chưa.

Canon 1005

If there is any doubt as to whether the sick person has reached the age of reason, or is dangerously ill, or is dead, this sacrament is to be administered.

Điều 1006

Phải ban bí tích này cho các bệnh nhân nào đã xin lãnh nhận ít là cách mặc nhiên, lúc họ còn tỉnh táo.

Canon 1006

This sacrament is to be administered to the sick who, when they were in possession of their faculties, at least implicitly asked for it.

Điều 1007

Không được ban bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân cho những người cố chấp sống trong tội trọng công khai.

Canon 1007

The anointing of the sick is not to be conferred upon those who obstinately persist in a manifestly grave sin.

Điều 1008

Do bí tích Truyền Chức Thánh đã được Thiên Chúa thiết lập, một số Kitô hữu được ghi ấn tích không thể xóa nhòa và được đặt làm những thừa tác viên có chức thánh. Như thế họ được thánh hiến và được chỉ định, mỗi người tùy theo cấp bậc của mình, để phục vụ đoàn dân Chúa, bằng một danh hiệu mới và đặc thù.

Canon 1008

By divine institution, some of the Christian faithful are marked with an indelible character and constituted as sacred ministers by the sacrament of holy orders. They are thus consecrated and deputed so that, each according to his own grade, they may serve the People of God by a new and specific title. [Revised wording according to m.p. Omnium in mentem, 26.X.2009]

Điều 1009

§1. Các chức thánh là chức Giám Mục, chức linh mục và chức phó tế.
§2. Những chức ấy được trao ban bằng việc đặt tay và bằng việc đọc lời nguyện thánh hiến đã được các sách phụng vụ quy định cho mỗi cấp bậc.
§3. Những người chịu chức giám mục hoặc linh mục nhận lãnh sứ mạng và năng quyền hành động trong cương vị (in persona) của Chúa Kitô thủ lãnh, trái lại, các phó tế được khả năng phục vụ dân Chúa trong việc phục vụ phụng vụ, Lời Chúa và bác ái.

Canon 1009

§1 The orders are the episcopate, the priesthood and the diaconate.
§2 They are conferred by the imposition of hands and the prayer of consecration which the liturgical books prescribe for each grade.
§3 Those who are constituted in the order of the episcopate or the presbyterate receive the mission and capacity to act in the person of Christ the Head, whereas deacons are empowered to serve the People of God in the ministries of the liturgy, the word and charity. [New paragraph added by m.p. Omnium in mentem, 26.X.2009] [On the meaning of “in the person of Christ the Head” see Dicastery for the Doctrine of the Faith, Note Gestis verbisque, 25.I.2024, no. 24] MINISTER

Điều 1010

Việc truyền chức phải được cử hành trong Thánh Lễ, vào Chúa Nhật hoặc ngày lễ buộc. Tuy nhiên, vì lý do mục vụ, cũng có thể truyền chức vào các ngày khác, kể cả các ngày trong tuần.

Canon 1010

An ordination is to be celebrated during Mass, on a Sunday or holyday of obligation. For pastoral reasons, however, it may take place on other days also, even on ferial days.

Điều 1011

§1. Cách chung, lễ truyền chức phải được cử hành trong nhà thờ chính tòa; nhưng vì lý do mục vụ có thể được cử hành trong một nhà thờ hoặc một nhà nguyện khác.
§2. Phải mời các giáo sĩ và các Kitô hữu khác tham dự lễ truyền chức để buổi lễ có thật đông người tham dự.

Canon 1011

§1 An ordination is normally to be celebrated in the cathedral church. For pastoral reasons, however, it may be celebrated in another church or oratory.
§2 Clerics and other members of Christ’s faithful are to be invited to attend an ordination, so that the greatest possible number may be present at the celebration.

Điều 1012

Thừa tác viên của bí tích Truyền Chức Thánh là Giám Mục đã được tấn phong.

Canon 1012

The minister of sacred ordination is a consecrated Bishop.

Điều 1013

Không Giám Mục nào được phép tấn phong Giám Mục cho ai, nếu trước đó chưa có ủy nhiệm thư của Đức Giáo Hoàng.

Canon 1013

No Bishop is permitted to consecrate anyone as Bishop, unless it is first established that a pontifical mandate has been issued.

Điều 1014

Trừ khi được Tông Tòa miễn chuẩn, trong lễ tấn phong Giám Mục, Giám Mục chủ phong phải có thêm ít là hai Giám Mục phụ phong khác, tuy nhiên, cùng với các vị ấy, tất cả các Giám mục hiện diện cũng nên tấn phong người được tuyển chọn.

Canon 1014

Unless a dispensation has been granted by the Apostolic See, the principal consecrating Bishop at an episcopal consecration is to have at least two other consecrating Bishops with him. It is, however, entirely appropriate that all the Bishops present should join with these in consecrating the Bishop-elect.

Điều 1015

§1. Mỗi tiến chức linh mục và mỗi tiến chức phó tế phải được chính Giám Mục của mình truyền chức, hoặc phải có thư giới thiệu hợp thức của ngài.
§2. Chính Giám Mục riêng phải đích thân truyền chức cho những người thuộc quyền mình, nếu ngài không bị một ngăn trở chính đáng; nhưng ngài không thể truyền chức cách hợp thức cho một người thuộc quyền nhưng lại theo nghi lễ Đông Phương, nếu không có một đặc ân của Tòa Thánh.
§3. Vị nào có thể cấp thư giới thiệu để chịu các chức thánh, thì vị ấy cũng có thể đích thân ban các chức ấy, nếu có ấn tích Giám Mục.

Canon 1015

§1 Each candidate is to be ordained to the priesthood or to the diaconate by his proper Bishop, or with lawful dimissorial letters granted by that Bishop.
§2 If not impeded from doing so by a just reason, a Bishop is himself to ordain his own subjects. He may not, however, without an apostolic indult lawfully ordain a subject of an oriental rite.
§3 Anyone who is entitled to give dimissorial letters for the reception of orders may also himself confer these orders, if he is a Bishop.

Điều 1016

Về việc truyền chức phó tế cho những người muốn gia nhập hàng giáo sĩ triều. Giám Mục riêng là Giám Mục giáo phận tại nơi tiến chức có cư sở hoặc Giám Mục giáo phận tại nơi tiến chức đã quyết định dấn thân phục vụ; về việc truyền chức linh mục cho các giáo sĩ triều, Giám Mục riêng là Giám Mục giáo phận tại nơi tiến chức đã nhập tịch khi chịu chức phó tế.

Canon 1016

In what concerns the ordination to the diaconate of those who intend to enrol themselves in the secular clergy, the proper Bishop is the Bishop of the diocese in which the aspirant has a domicile, or the Bishop of the diocese to which he intends to devote himself. In what concerns the priestly ordination of the secular clergy, it is the Bishop of the diocese in which the aspirant was incardinated by the diaconate.

Điều 1017

Bất cứ một Giám Mục nào cũng không thể ban bí tích Truyền Chức ngoài quyền hạn của mình, nếu không có phép của Giám Mục giáo phận.

Canon 1017

A Bishop may not confer orders outside his own jurisdiction except with the permission of the diocesan Bishop.

Điều 1018

§1. Các vị sau đâycó thể cấp thư giới thiệu cho các giáo sĩ triều:1° Giám Mục riêng được nói đến ở điều 1016. 20 Giám Quản tông toà; cũng như Giám Quản giáo phận với sự chấp thuận của ban tư vấn; Quyền Đại Diện và Quyền Phủ Doãn tông toà, với sự chấp thuận của hội đồng được nói đến ở điều 495
§2.
§2. Giám Quản giáo phận, Quyền Đại Diện và Quyền Phủ Doãn tông tòa không được cấp thư giới thiệu cho những người đã bị Giám Mục giáo phận hay Đại Diện hay Phủ Doãn tông tòa từ chối không cho tiến chức.

Canon 1018

§1 The following can give dimissorial letters for the secular clergy:1° the proper Bishop mentioned in can. 1016;2° the apostolic Administrator; with the consent of the college of consultors, the diocesan Administrator; with the consent of the council mentioned in can. 495
§2, the Pro-vicar and Pro-prefect apostolic.
§2 The diocesan Administrator, the Pro-vicar and Pro-prefect apostolic are not to give dimissorial letters to those to whom admission to orders was refused by the diocesan Bishop or by the Vicar or Prefect apostolic.

Điều 1019

§1. Bề Trên cấp cao của một hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng, hoặc của một tu đoàn tông đồ giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng cấp thư giới thiệu để chịu chức phó tế và chức linh mục cho những người thuộc quyền mình đã được gia nhập vào hội dòng hay tu đoàn cách vĩnh viễn hoặc dứt khoát theo hiến pháp.
§2. Việc truyền chức cho tất cả những thành viên khác thuộc bất cứ hội dòng hoặc tu đoàn nào được chi phối bởi luật dành cho các giáo sĩ triều, mọi đặc ân đã được ban cho các Bề Trên đều bị thu hồi.

Canon 1019

§1 It belongs to the major Superior of a clerical religious institute of pontifical right or of a clerical society of apostolic life of pontifical right to grant dimissorial letters for the diaconate and for the priesthood to his subjects who are, in accordance with the constitutions, perpetually or definitively enrolled in the institute or society.
§2 The ordination of all other candidates of whatever institute or society, is governed by the law applying to the secular clergy, any indult whatsoever granted to Superiors being revoked.

Điều 1020

Không được cấp thư giới thiệu, nếu trước đó không có tất cả các chứng thư và văn kiện mà luật buộc phải có chiếu theo quy tắc của các điều 1050 và 1051.

Canon 1020

Dimissorial letters are not to be granted unless all the testimonials and documents required by the law in accordance with cann. 1050 and 1051 have first been obtained.

Điều 1021

Có thể gửi thư giới thiệu đến bất cứ Giám mục nào hiệp thông với Tông Toà, nhưng không được gửi đến một Giám Mục nào thuộc một lễ điển khác với lễ điển của người tiến chức, nếu không có một đặc ân của Tòa Thánh.

Canon 1021

Dimissorial letters may be sent to any Bishop in communion with the Apostolic See, but not to a Bishop of a rite other than that of the ordinand, unless there is an apostolic indult.

Điều 1022

Một khi đã nhận được thư giới thiệu chính thức, Giám Mục truyền chức không được tiến hành việc phong chức, nếu không hoàn toàn chắc chắn về tính xác thực của thư ấy.

Canon 1022

When the ordaining Bishop has received the prescribed dimissorial letters, he may proceed to the ordination only when the authenticity of these letters is established beyond any doubt whatever.

Điều 1023

Các thư giới thiệu có thể bị giới hạn hoặc bị thu hồi do vị đã ban cấp hoặc do người kế vị, nhưng một khi đã được ban cấp, thư giới thiệu không mất hiệu lực khi vị ban cấp hết quyền.

Canon 1023

Dimissorial letters can be limited or can be revoked by the person granting them or by his successor; once granted, they do not lapse on the expiry of the grantor’s authority.

Điều 1024

Chỉ có người nam đã được Rửa Tội mới nhận lãnh thành sự bí tích Truyền Chức Thánh.

Canon 1024

Only a baptised man can validly receive sacred ordination. [See the offence now incorporated into the Code in the revised can. 1388
§3]

Điều 1025

§1. Để trao ban chức linh mục hay chức phó tế cách hợp thức, sau khi đã trải qua thời gian thử thách chiếu theo quy tắc của luật, ứng viên buộc phải hội đủ những đức tính thích hợp, theo sự nhận định của Giám Mục riêng hoặc của Bề Trên cấp cao có thẩm quyền, không bị một điều bất hợp luật hay một ngăn trở nào ràng buộc, và phải chu toàn các điều kiện tiên quyết chiếu theo quy tắc của các điều 1033-1039; ngoài ra, còn phải thu thập các văn kiện được nói đến ỏ điều 1050 và phải thực hiện việc điều tra được dự liệu ở điều 1051.
§2. Hơn nữa ứng viên phải được Bề Trên hợp pháp của mình nhận định là hữu ích cho thừa tác vụ của Giáo Hội.
§3. Giám Mục truyền chức cho một người thuộc quyền mình để phục vụ một giáo phận khác, thì phải chắc chắn là người nhận lãnh chức thánh sẽ gia nhập giáo phận ấy.

Canon 1025

§1 In order lawfully to confer the orders of priesthood or diaconate, it must have been established, in accordance with the proofs laid down by law, that in the judgement of the proper Bishop or competent major Superior, the candidate possesses the requisite qualities, that he is free of any irregularity or impediment, and that he has fulfilled the requirements set out in can. 1033-1039. Moreover, the documents mentioned in can. 1050 must be to hand, and the investigation mentioned in can. 1051 must have been carried out.
§2 It is further required that, in the judgement of the same lawful Superior, the candidate is considered beneficial to the ministry of the Church.
§3 A Bishop ordaining his own subject who is destined for the service of another diocese, must be certain that the ordinand will in fact be attached to that other diocese.

Điều 1026

Để được thụ phong, đương sự phải được tự do hoàn toàn; tuyệt đối cấm cưỡng bách một người phải lãnh nhận chức thánh bằng bất cứ cách nào và vì bất cứ lý do nào, hoặc ngăn cản không cho một người có đủ khả năng xứng hợp theo giáo luật lãnh nhận các chức ấy.

Canon 1026

For a person to be ordained, he must enjoy the requisite freedom. It is absolutely wrong to compel anyone, in any way or for any reason whatsoever, to receive orders, or to turn away from orders anyone who is canonically suitable.

Điều 1027

Các ứng viên phó tế và các ứng viên linh mục phải được đào tạo và được chuẩn bị kỹ lưỡng, chiếu theo quy tắc của luật.

Canon 1027

Aspirants to the diaconate and the priesthood are to be formed by careful preparation in accordance with the law.

Điều 1028

Giám Mục giáo phận hoặc Bề Trên có thẩm quyền phải liệu sao cho các ứng viên, trước khi được gọi lên một chức nào, phải được giáo huấn đầy đủ về những điều liên quan đến chức ấy cùng những nghĩa vụ của chức ấy.

Canon 1028

The diocesan Bishop or the competent Superior must ensure that before they are promoted to any order, candidates are properly instructed concerning the order itself and its obligations.

Điều 1029

Dựa vào sự xét đoán khôn ngoan của mình và sau khi đã cân nhắc mọi sự, Bề Trên cấp cao có thẩm quyền chỉ nên cho tiến chức những ứng sinh có đức tin tinh tuyền, ý hướng ngay lành, kiến thức cần thiết, danh thơm tiếng tốt, đức hạnh vẹn toàn, nhân đức vững vàng và các đức tính khác về thể lý cũng như về tâm lý phù hợp với chức thánh sẽ lãnh nhận.

Canon 1029

Only those are to be promoted to orders who, in the prudent judgement of the proper Bishop or the competent major Superior, all things considered, have sound faith, are motivated by the right intention, are endowed with the requisite knowledge, enjoy a good reputation, and have moral probity, proven virtue and the other physical and psychological qualities appropriate to the order to be received. [See the offence of voluntary concealment of a censure or irregularity in the revised can. 1388
§2]

Điều 1030

Trừ khi có một lý do giáo luật, cho dầu còn kín, Giám Mục riêng hoặc Bề Trên cấp cao có thẩm quyền không được cấm các phó tế thuộc quyền mình tiến tới chức linh mục, khi họ đã được đề cử tiến chức, và phải tôn trọng quyền thượng cầu chiếu theo quy tắc của luật.

Canon 1030

The proper Bishop or the competent major Superior may, but only for a canonical reason, even one which is occult, forbid admission to the priesthood to deacons subject to them who were destined for the priesthood, without prejudice to recourse in accordance with the law.

Điều 1031

§1. Chỉ được truyền chức linh mục cho những người đã trọn hai mươi lăm tuổi và đã đủ trưởng thành, ngoài ra, còn phải giữ khoảng cách ít là sáu tháng giữa chức phó tế và chức linh mục; ứng viên lên chức linh mục chỉ có thể được chịu chức phó tế sau khi đã chọn hai mươi ba tuổi.
§2. Một ứng viên phó tế vĩnh viễn không kết hôn chỉ được chịu chức phó tế, nếu đã đủ ít là hai mươi lăm tuổi trọn; một ứng viên phó tế vĩnh viễn đã kết hôn rồi, thì phải đủ ít là ba mươi lăm tuổi trọn và phải được sự chấp thuận của vợ mình.
§3. Các Hội Đồng Giám Mục có trọn quyền ấn định quy tắc đòi hỏi tuổi cao hơn để tiến chức linh mục và phó tế vĩnh viễn.
§4. Quyền miễn chuẩn quá một năm về tuổi buộc phải có chiếu theo quy tắc của các §
§1 và 2, được dành riêng cho Tông Toà.

Canon 1031

§1 The priesthood may be conferred only upon those who have completed their twenty-fifth year of age, and possess a sufficient maturity; moreover, an interval of at least six months between the diaconate and the priesthood must have been observed. Those who are destined for the priesthood are to be admitted to the order of diaconate only when they have completed their twenty-third year.
§2 A candidate for the permanent diaconate who is not married may be admitted to the diaconate only when he has completed at least his twenty-fifth year; if he is married, not until he has completed at least his thirty-fifth year, and then with the consent of his wife.
§3 Episcopal Conferences may issue a regulation which requires a later age for the priesthood and for the permanent diaconate.
§4 A dispensation of more than a year from the age required by §
§1 and 2 is reserved to the Apostolic See.

Điều 1032

§1. Các ứng viên linh mục chỉ có thể chịu chức phó tế sau khi đã hoàn tất năm thứ năm của chu kỳ triết học và thần học.
§2. Sau khi đã hoàn tất chu kỳ học và trước khi được chịu chức linh mục, phó tế phải tham gia công tác mục vụ bằng cách thực hành chức phó tế trong một thời gian thích hợp do Giám Mục hay Bề Trên cấp cao có thẩm quyền xác định.
§3. Ứng viên phó tế vĩnh viễn chỉ được chịu chức này sau khi đã hoàn tất thời gian đào tạo.

Canon 1032

§1 Aspirants to the priesthood may be promoted to the diaconate only when they have completed the fifth year of the curriculum of philosophical and theological studies.
§2 After completing the curriculum of studies and before being promoted to the priesthood, deacons are to spend an appropriate time, to be determined by the Bishop or by the competent major Superior, exercising the diaconal order and taking part in the pastoral ministry.
§3 An aspirant to the permanent diaconate is not to be promoted to this order until he has completed the period of formation.

Điều 1033

Chỉ có người nào lãnh nhận bí tích Thêm Sức rồi mới được lãnh nhận chức thánh cách hợp thức.

Canon 1033

Only one who has received the sacrament of sacred confirmation may lawfully be promoted to orders.

Điều 1034

§1. Chỉ được truyền chức cho một ứng viên phó tế hay một ứng viên linh mục, nếu trước đó đương sự đã được nhà chức trách được nói đến ở điều 1016 và 1019 ghi vào sổ các ứng viên qua nghi thức tiếp nhận của phụng vụ, sau khi đương sự đã tự tay viết và ký tên vào đơn xin và đã được nhà chức trách ấy chấp nhận bằng văn bản.
§2. Người nào đã gia nhập vào một hội dòng giáo sĩ bằng những lời khấn, thì không buộc phải có ghi thức tiếp nhận.

Canon 1034

§1 An aspirant to the diaconate or to the priesthood is not to be ordained unless he has first, through the liturgical rite of admission, secured enrolment as a candidate from the authority mentioned in cann. 1016 and 1019. He must previously have submitted a petition in his own hand and signed by him, which has been accepted in writing by the same authority.
§2 One who has by vows become a member of a clerical institute is not obliged to obtain this admission.

Điều 1035

§1. Trước khi được tiến chức phó tế, dù là vĩnh viễn hay chuyển tiếp, đương sự buộc phải lãnh nhận và thi hành thừa tác vụ đọc sách và thừa tác vụ giúp lễ trong một thời gian thích hợp.
§2. Phải có khoảng cách ít là sáu tháng, từ khi lãnh nhận thừa tác vụ giúp lễ cho đến khi chịu chức phó tế.

Canon 1035

§1 Before anyone may be promoted to the diaconate, whether permanent or transitory, he must have received the ministries of lector and acolyte, and have exercised them for an appropriate time.
§2 Between the conferring of the ministry of acolyte and the diaconate there is to be an interval of at least six months.

Điều 1036

Để có thể chịu chức phó tế hay chức linh mục, ứng viên phải đệ trình cho Giám Mục riêng hoặc cho Bề Trên cấp cao có thẩm quyền một bản tuyên bố do chính tay mình viết và ký tên, trong đó đương sự xác nhận rằng mình tự nguyện và tự do lãnh nhận chức thánh và sẽ vĩnh viễn dấn thân cho thứa tác vụ của Giáo Hội, đồng thời xin được chấp nhận để chịu chức.

Canon 1036

For a candidate to be promoted to the order of diaconate or priesthood, he must submit to the proper Bishop or to the competent major Superior a declaration written in his own hand and signed by him, in which he attests that he will spontaneously and freely receive the sacred order and will devote himself permanently to the ecclesiastical ministry, asking at the same time that he be admitted to receive the order.

Điều 1037

Người sắp được tiến chức phó tế vĩnh viễn mà không kết hôn, cũng như người sắp được tiến chức linh mục, không được chấp nhận để chịu chức phó tế nếu họ đã không công khai đảm nhận nghĩa vụ sống độc thân trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội, theo nghi thức đã được quy định, hoặc nếu họ đã không tuyên khấn vĩnh viễn trong một hội dòng.

Canon 1037

A candidate for the permanent diaconate who is not married and likewise a candidate for the priesthood, is not to be admitted to the order of diaconate unless he has, in the prescribed rite, publicly before God and the Church undertaken the obligation of celibacy, or unless he has taken perpetual vows in a religious institute. [A Decree of the Congregation for Divine Worship and the Discipline of the Sacraments, Ritus ordinationum, 29.VI.1989 (AAS 82 (1990), 826-827) states that even a religious having taken sacred vows must specifically assume the obligation of celibacy before ordination to the diaconate]

Điều 1038

Phó tế từ chối tiến chức linh mục không thể bị cấm thi hành chức thánh đã lãnh nhận, trừ khi mắc một ngăn trở theo giáo luật hay khi có một lý do nghiêm trọng nào khác mà Giám Mục giáo phận hoặc Bề Trên cấp cao có thẩm quyền phải thẩm định theo sự phán đoán của mình.

Canon 1038

A deacon who refuses to be promoted to the priesthood may not be forbidden the exercise of the order he has received, unless he is constrained by a canonical impediment, or unless there is some other grave reason, to be estimated by the diocesan Bishop or the competent major Superior

Điều 1039

Tất cả những người sắp chịu một chức thánh nào đó đều phải tĩnh tâm ít là năm ngày, tại nơi và theo thể thức do Đấng Bản Quyền ấn định; trước khi truyền chức, Giám Mục phải được thông báo về việc các ứng viên đã tĩnh tâm hợp lệ.

Canon 1039

All who are to be promoted to any order must make a retreat for at least five days, in a place and in the manner determined by the Ordinary. Before he proceeds to the ordination, the Bishop must have assured himself that the candidates have duly made the retreat.

Điều 1040

Những ai vướng mắc một ngăn trở đều bị cấm nhận lãnh các chức thánh. Một ngăn trở có thể là đơn thuần; hoặc có thể là vĩnh viễn, trong trường hợp đó được gọi là sự bất hợp luật. Không vướng mắc ngăn trở nào nếu không được bao hàm trong các điều luật sau đây.

Canon 1040

Those bound by an impediment are to be barred from the reception of orders. An impediment may be simple; or it may be perpetual, in which case it is called an irregularity. No impediment is contracted which is not contained in the following canons. [See the offence of voluntary concealment of an irregularity in the revised can. 1388
§2]

Điều 1041

Những người sau đây bất hợp luật để lãnh nhận các chức thánh:1° người mắc bất cứ hình thức điên loạn nào, hay mắc một bệnh tâm thần nào khác mà sau khi thỉnh ý các chuyên viên, họ bị đánh giá là không có khả năng chu toàn thừa tác vụ;2° người đã phạm tội bỏ đạo, lạc giáo hay ly giáo;3° người đã mưu toan kết hôn, dù chỉ là hôn nhân dân sự, trong khi chính mình bị cấm kết hôn hoặc vì dây liên kết của một hôn nhân đã có, hoặc vì chức thánh, hoặc vì lời khấn công và vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh, hoặc với một phụ nữ đã kết hôn thành sự hay đang mắc ngăn trở vì lời khấn khiết tịnh tương tự;4° người cố ý giết người, hoặc người thực sự phá thai, và tất cả những ai đã cộng tác tích cực;5° người đã cắt bỏ thân thể mình hay người khác cách nghiêm trọng và ác ý, hoặc mưu toan tự tử;6° người thi hành một hành vi thuộc chức thánh dành riêng cho hàng Giám Mục hay Linh Mục, trong khi chính mình không có chức thánh đó hoặc bị cấm thi hành vì một hình phạt giáo luật đã được tuyên kết hay giáng kết.

Canon 1041

The following persons are irregular for the reception of orders:1° one who suffers from any form of insanity, or from any other psychological infirmity, because of which he is, after experts have been consulted, judged incapable of being able to fulfil the ministry;2° one who has committed the offence of apostasy, heresy or schism;3° one who has attempted marriage, even a civil marriage, either while himself prevented from entering marriage whether by an existing marriage bond or by a sacred order or by a public and perpetual vow of chastity, or with a woman who is validly married or is obliged by the same vow;4° one who has committed wilful homicide, or one who has actually procured an abortion, and all who have positively cooperated;5° one who has gravely and maliciously mutilated himself or another, or who has attempted suicide; [An Authentic Interpretation of canon 1041, 4º-5º, 31.V.2016, confirms that the term “irregular” also includes non-Catholics who have committed the acts in4° and5°]6° one who has carried out an act of order which is reserved to those in the order of the episcopate or priesthood, while himself either not possessing that order or being barred from its exercise by some canonical penalty, declared or imposed.

Điều 1042

Những người sau đây mắc ngăn trở đơn thuần trong việc lãnh nhận các chức thánh:1° người đã có vợ, trừ khi người ấy được dự định cách hợp pháp lên chức phó tế vĩnh viễn;2° người đang thi hành một chức vụ hay việc quản trị cấm các giáo sĩ đảm nhận chiếu theo đ. 285 và đ. 286, mà phải tường trình sổ sách; ngăn trở ràng buộc cho đến khi họ từ bỏ chức vụ hay việc quản trị, hoàn tất việc tường trình và được giải thoát;3° tân tòng, trừ khi theo sự phán đoán của Đấng Bản Quyền, người ấy đã được thử nghiệm đầy đủ.

Canon 1042

The following are simply impeded from receiving orders:1° a man who has a wife, unless he is lawfully destined for the permanent diaconate;2° one who exercises an office or administration forbidden to clerics, in accordance with cann. 285 and 286, of which he must render an account; the impediment binds until such time as, having relinquished the office and administration and rendered the account, he has been freed;3° a neophyte, unless, in the judgement of the Ordinary, he has been sufficiently tested.

Điều 1043

Các tín hữu có bổn phận phải trình báo cho Đấng Bản Quyền hoặc cha sở, trước khi truyền chức, về các ngăn trở lãnh nhận chức thánh nếu họ biết được.

Canon 1043

Christ’s faithful are bound to reveal, before ordination, to the Ordinary or to the parish priest, such impediments to sacred orders as they may know about. [See the revised can. 1388
§2]

Điều 1044

§1. Những người sau đây bất hợp luật trong việc thi hành các chức thánh đã lãnh nhận:1° người đã lãnh nhận cách bất hợp pháp các chức thánh trong khi đang vướng mắc một bất hợp luật để lãnh nhận các chức ấy;2° người đã phạm tội được nói đến ở đ. 1041, số 2, nếu là tội công khai;3° người đã phạm một trong những tội được nói đến ở đ. 1041, các số 3, 4, 5, 6.
§2. Những người sau đây bị ngăn trở trong việc thi hành các chức thánh:1° người lãnh nhận cách bất hợp pháp các chức thánh trong khi đang vướng mắc một ngăn trở lãnh nhận;2° người mắc bệnh điên loạn hay một bệnh tâm thần nào khác được nói đến ở đ. 1041, số 1, cho đến khi Đấng Bản Quyền, sau khi thỉnh ý chuyên viên, cho phép thi hành chức thánh đó.

Canon 1044

§1 The following are irregular for the exercise of orders already received:1° one who, while bound by an irregularity for the reception of orders, unlawfully received orders;2° one who committed the offence mentioned in can. 1041, n. 2, if the offence is public;3° one who committed any of the offences mentioned in can. 1041, nn. 3, 4, 5, 6.
§2 The following are impeded from the exercise of orders:1° one who, while bound by an impediment to the reception of orders, unlawfully received orders;2° one who suffers from insanity or from some other psychological infirmity mentioned in can. 1041, n. 1, until such time as the Ordinary, having consulted an expert, has allowed the exercise of the order in question.

Điều 1045

Sự thiếu hiểu biết về những bất hợp luật và ngăn trở không miễn trừ khỏi chúng.

Canon 1045

Ignorance of irregularities and impediments does not exempt from them.

Điều 1046

Các bất hợp luật và ngăn trở được tính nhiều lần nếu chúng phát sinh từ những nguyên nhân khác nhau, nhưng không tính nhiều lần nếu lặp lại cùng một nguyên nhân, trừ trường hợp sự bất hợp luật phát sinh do cố ý giết người hay do thực sự phá thai.

Canon 1046

Irregularities and impediments are multiplied if they arise from different causes, not however from the repetition of the same cause, unless it is a question of the irregularity arising from the commission of wilful homicide or from having actually procured an abortion.

Điều 1047

§1. Nếu sự việc làm cơ sở cho chúng đã được đưa ra tòa án, việc chuẩn nhận mọi bất hợp luật được dành riêng cho một mình Tông tòa.
§2. Việc chuẩn nhận những bất hợp luật và ngăn trở lãnh nhận các chức thánh sau đây cũng được dành riêng cho Tông tòa:1° bất hợp luật phát sinh từ các tội được nói đến ở đ. 1041, số 2 và 3, nếu là tội công khai;2° bất hợp luật phát sinh từ tội được nói đến ở đ. 1041, số 4, dù công khai hay kín đáo;3° ngăn trở được nói đến ở đ. 1042, số 1.
§3. Cũng dành riêng cho Tông Tòa việc chuẩn nhận bất hợp luật trong việc thi hành chức thánh đã lãnh nhận được nói đến ở đ. 1041, số 3, nhưng chỉ trong các vụ công khai, và trong đ. 1041, số 4, cả trong các vụ kín đáo.
§4. Đấng Bản Quyền có thể chuẩn nhận những bất hợp luật và ngăn trở không dành riêng cho Tòa Thánh.

Canon 1047

§1 If the fact on which they are based has been brought to the judicial forum, dispensation from all irregularities is reserved to the Apostolic See alone.
§2 Dispensation from the following irregularities and impediments to the reception of orders is also reserved to the Apostolic See:1° irregularities arising from the offences mentioned in can. 1041, nn. 2 and 3, if they are public;2° an irregularity arising from the offence, whether public or occult, mentioned in can. 1041, n. 4;3° the impediment mentioned in can. 1042, n. 1.
§3 To the Apostolic See is also reserved the dispensation from the irregularities for the exercise of an order received mentioned in can. 1041, n. 3 but only in public cases, and in n. 4 of the same canon even in occult cases.
§4 The Ordinary can dispense from irregularities and impediments not reserved to the Holy See.

Điều 1048

Trong những trường hợp kín đáo khẩn cấp hơn, nếu không thể đến được với Đấng Bản Quyền, hoặc với Tòa Ân Giải đối với những bất hợp luật được nói đến ở đ. 1041, số 3 và số 4, và nếu có nguy cơ sát rạt sẽ xảy ra thiệt hại nghiêm trọng hay mất thanh danh, người bất hợp luật trong việc thi hành chức thánh vẫn có thể thi hành chức đó. Tuy nhiên, người ấy vẫn có nghĩa vụ phải chạy đến với Đấng Bản Quyền hoặc Tòa Ân Giải càng sớm càng tốt, qua trung gian một cha giải tội và không được xưng tên.

Canon 1048

In the more urgent occult cases, if the Ordinary or, in the case of the irregularities mentioned in can. 1041, nn. 3 and 4,* the Penitentiary cannot be approached, and if there is imminent danger of serious harm or loss of reputation, the person who is irregular for the exercise of an order may exercise it. There remains, however, the obligation of his having recourse as soon as possible to the Ordinary or the Penitentiary, without revealing his name, and through a confessor. [*The reference should more properly be to can. 1044
§1,3°]

Điều 1049

§1. Trong đơn xin chuẩn nhận các bất hợp luật hay ngăn trở, phải nêu lên mọi bất hợp luật và ngăn trở. Tuy nhiên, một sự chuẩn nhận tổng quát vẫn có giá trị đối với những ngăn trở bị bỏ sót vì thiện ý, ngoại trừ các bất hợp luật được nói đến ở đ. 1041, số 4, hoặc những bất hợp luật khác đã được đưa ra tòa án; nhưng sự chuẩn nhận không có giá trị đối với những bất hợp luật bị che giấu vì ác ý.
§2. Nếu là bất hợp luật phát sinh từ tội cố ý giết người hay phá thai, để sự chuẩn nhận được thành sự, phải kê khai cả số lần phạm tội.
§3. Việc chuẩn nhận tổng quát các bất hợp luật và ngăn trở lãnh nhận chức thánh có giá trị cho mọi cấp bậc chức thánh.

Canon 1049

§1 In a petition to obtain a dispensation from irregularities or impediments, all irregularities and impediments are to be mentioned. However, a general dispensation is valid also for those omitted in good faith, with the exception of the irregularities mentioned in can. 1041, n. 4, or of others which have been brought to the judicial forum; it is not, however, valid for those concealed in bad faith.
§2 If it is question of an irregularity arising from wilful homicide or from a procured abortion, for the validity of the dispensation even the number of offences must be stated.
§3 A general dispensation from irregularities and impediments to the reception of orders is valid for all orders.

Điều 1050

Để có thể được tiến cử lên các chức thánh, đương sự buộc phải có các văn bản sau đây:1° giấy chứng nhận đã học xong chương trình chiếu theo quy tắc của điều 1032;2° giấy chứng nhận đã chịu chức phó tế, nếu là những ứng sinh tiến chức linh mục;3° giấy chứng nhận đã chịu phép Rửa Tội và phép Thêm Sức, cũng như đã lãnh nhận các thừa tác vụ được nói đến ở điều 1035, nếu là những ứng sinh tiến chức phó tế; hơn nữa, giấy chứng nhận đã làm bản tuyên bố được nói đến ở điều 1036, cũng như giấy chứng nhận đã cử hành bí tích Hôn Nhân và giấy chứng đã được sự chấp thuận của người vợ, nếu là ứng sinh chịu chức phó tế vĩnh viễn đã lập gia đình.

Canon 1050

For a person to be promoted to sacred orders, the following documents are required:1° a certificate of studies duly completed in accordance with can. 1032;2° for those to be ordained to the priesthood, a certificate of the reception of the diaconate3° for those to be promoted to the diaconate, certificates of the reception of baptism, of confirmation and of the ministries mentioned in can. 1035, and a certificate that the declaration mentioned in can. 1036 has been made, if an ordinand to be promoted to the permanent diaconate is married, a certificate of his marriage and testimony of his wife’s consent.

Điều 1051

Về việc điều tra các đức tính cần thiết của người nhận lãnh chức thánh, phải giữ những quy định sau đây:1° phải có giấy chứng nhận của giám đốc chủng viện hay giám đốc cơ sở đào tạo về các đức tính cần thiết để lãnh nhận chức thánh, tức là: học thuyết ngay lành, đạo đức chân thành, hạnh kiểm tốt, khả năng thi hành thừa tác vụ của ứng sinh; và còn phải có giấy chứng nhận tình trạng sức khỏe thể lý và tâm lý, sau khi đã khám nghiệm kỹ lưỡng;2° để điều tra cách thích hợp, Giám Mục giáo phận hoặc Bề Trên cấp cao có thể dùng những phương thế khác được xem là hữu ích, tùy theo hoàn cảnh mỗi thời và mỗi nơi, chẳng hạn như các chứng thư, các thông báo hay các thông tin khác.

Canon 1051

In the investigation of the requisite qualities of one who is to be ordained, the following provisions are to be observed:1° there is to be a certificate from the rector of the seminary or of the house of formation, concerning the qualities required in the candidate for the reception of the order, namely sound doctrine, genuine piety, good moral behaviour, fitness for the exercise of the ministry, likewise, after proper investigation, a certificate of the candidate’s state of physical and psychological health;2° the diocesan Bishop or the major Superior may, in order properly to complete the investigation, use other means which, taking into account the circumstances of time and place, may seem useful, such as testimonial letters, public notices or other sources of information.

Điều 1052

§1. Để có thể tiến hành truyền chức, khi truyền chức do quyền riêng của mình, thì chính Giám Mục phải biết chắc là đã thu thập được những văn kiện được nói đến ở điều 1050, đã thực hiện việc điều tra chiếu theo quy tắc của luật, và đã có những chứng cớ xác thực về khả năng xứng hợp của ứng viên.
§2. Để tiến hành việc truyền chức thánh cho một người không thuộc quyền mình, Giám Mục chỉ cần thư giới thiệu xác nhận là đã thu thập những văn kiện ấy, đã thực hiện việc điều tra chiếu theo quy tắc của luật, và đã biết chắc chắn khả năng xứng hợp của ứng viên; nếu người lãnh nhận chức thánh là thành viên của một hội dòng hay của một tu đoàn tông đồ, thì những thư giới thiệu ấy còn phải chứng nhận là đương sự đã vĩnh viễn gia nhập hội dòng hay tu đoàn, và là người thuộc quyền Bề Trên cấp thư giới thiệu.
§3. Mặc dù đã làm tất cả những việc nói trên, nếu có những lý do chắc chắn khiến cho Giám Mục hồ nghi ứng viên có khả năng xứng hợp để lãnh nhận các chức thánh hay không, thì ngài không được cho đương sự tiến chức.

Canon 1052

§1 For a Bishop to proceed to an ordination which he is to confer by his own right, he must be satisfied that the documents mentioned in can. 1050 are at hand and that, as a result of the investigations prescribed by law, the suitability of the candidate has been positively established.
§2 For a Bishop to proceed to the ordination of someone not his own subject, it is sufficient that the dimissorial letters state that those documents are at hand, that the investigation has been conducted in accordance with the law, and that the candidate’s suitability has been established. If the ordinand is a member of a religious institute or a society of apostolic life, these letters must also testify that he has been definitively enrolled in the institute or society and that he is a subject of the Superior who gives the letters.
§3 If, not withstanding all this, the Bishop has definite reasons for doubting that the candidate is suitable to receive orders, he is not to promote him. ORDINATION

Điều 1053

§1. Sau khi đã truyền chức, phải ghi tên của từng người đã thụ phong và tên của thừa tác viên truyền chức, nơi và ngày truyền chức trong một cuốn sổ riêng được lưu giữ cẩn thận tại tòa giám mục ở nơi đã truyền chức và phải cẩn thận lưu giữ tất cả mọi văn kiện của mỗi lần truyền chức.
§2, Giám Mục truyền chức phải cấp cho mỗi người đã được thụ phong một giấy chứng nhận chính thức về việc nhận chức thánh; nếu được giới thiệu cho một Giám Mục khác truyền chức, thì các người mới thụ phong phải trình những giấy chứng nhận ấy cho Đấng Bản Quyền của mình để ghi vào sổ riêng được lưu giữ trong văn khố.

Canon 1053

§1 After an ordination, the names of the individuals ordained, the name of the ordaining minister, and the place and date of ordination are to be entered in a special register which is to be carefully kept in the curia of the place of ordination. All the documents of each ordination are to be accurately preserved.
§2 The ordaining Bishop is to give to each person ordained an authentic certificate of the ordination received. Those who, with dimissorial letters, have been promoted by a Bishop other than their own, are to submit the certificate to their proper Ordinary for the registration of the ordination in a special register, to be kept in the archive.

Điều 1054

Đấng Bản quyền địa phương, nếu những người thụ phong là giáo sĩ triều, hoặc Bề Trên cấp cao có thẩm quyền, nếu những người thụ phong là tu sĩ thuộc quyền mình, phải thông báo từng lần truyền chức cho cha sở tại nơi các đương sự đã được Rửa Tội, để ghi vào sổ Rửa Tội, chiếu theo quy tắc của điều 535
§2.

Canon 1054

The local Ordinary, if it concerns the secular clergy, or the competent major Superior, if it concerns his subjects, is to send a notification of each ordination to the parish priest of the place of baptism. The parish priest is to record the ordination in the baptismal register in accordance with can. 535
§2.

Điều 1055

§1. Do giao ước hôn nhân, môt người nam và một người nữ tạo thành một sự hiệp thông trọn cả cuộc sống; tự bản chất, giao ước ấy hướng về lợi ích của đôi bạn, cũng như đến việc sinh sản và giáo dục con cái; Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn nhân giữa hai người đã được Rửa Tội lên hàng bí tích.
§2. Vì thế, giữa hai người đã được Rửa Tội không thể có khế ước hôn nhân thành sự, nếu đồng thời không phải là bí tích.

Canon 1055

§1 The marriage covenant, by which a man and a woman establish between themselves a partnership of their whole life, and which of its own very nature is ordered to the well-being of the spouses and to the procreation and upbringing of children, has, between the baptised, been raised by Christ the Lord to the dignity of a sacrament.
§2 Consequently, a valid marriage contract cannot exist between baptised persons without its being by that very fact a sacrament. [On the relationship between faith and the sacrament of marriage see International Theological Commission, The Reciprocity between Faith and Sacraments in the Sacramental Economy (2020), nos. 132-182]

Điều 1056

Những đặc tính chính yếu của hôn nhân là sự đơn nhất và sự bất khả phân ly, những đặc tính này có một sự bền vững đặc biệt trong hôn nhân Kitô giáo, vì có tính cách bí tích.

Canon 1056

The essential properties of marriage are unity and indissolubility; in Christian marriage they acquire a distinctive firmness by reason of the sacrament.

Điều 1057

§1. Chính sự ưng thuận của đôi bên được biểu lộ cách hợp thức giữa những người có năng cách về mặt pháp lý làm nên hôn nhân và không một quyền lực nào của loài người có thể thay thế được sự ưng thuận ấy.
§2. Sự ưng thuận hôn nhân là một hành vi của ý chí, nhờ đó một người nam và một người nữ hiến thân cho nhau và chấp nhận nhau qua một giao ước bất khả thu hồi để tạo thành hôn nhân.

Canon 1057

§1 A marriage is brought into being by the lawfully manifested consent of persons who are legally capable. This consent cannot be supplied by any human power.
§2 Matrimonial consent is an act of will by which a man and a woman by an irrevocable covenant mutually give and accept one another for the purpose of establishing a marriage.

Điều 1058

Tất cả mọi người không bị luật cấm đều có thể kết hôn.

Canon 1058

All can contract marriage who are not prohibited by law.

Điều 1059

Hôn nhân của người Công giáo, cho dù chỉ có một bên là Công giáo, bị chi phối không những bởi luật Thiên Chúa mà còn bởi luật Giáo Hội nữa, miễn là vẫn tôn trọng thẩm quyền của quyền bính dân sự đối với những hiệu quả thuần túy dân sự của chính hôn nhân này.

Canon 1059

The marriage of Catholics, even if only one party is baptised, is governed not only by divine law but also by canon law, without prejudice to the competence of the civil authority in respect of the merely civil effects of the marriage.

Điều 1060

Hôn nhân được luật ưu đãi, vì thế khi hồ nghi, hôn nhân vẫn được coi là thành sự cho đến khi có chứng cớ ngược lại.

Canon 1060

Marriage enjoys the favour of law. Consequently, in doubt the validity of a marriage must be upheld until the contrary is proven.

Điều 1061

§1. Hôn nhân thành sự giữa hai người đã được Rửa Tội mới chỉ là hôn nhân thành nhận, nếu chưa có sự hoàn hợp; hôn nhân được gọi là thành nhận và hoàn hợp, nếu hai người phối ngẫu đã thực hiện hành vi vợ chồng với nhau theo cách thức hợp với nhân tính, mà hành vi này tự nó có khả năng dẫn tới sinh sản là mục tiêu tự nhiên của hôn nhân và do hành vi đó mà hai vợ chồng trở nên một xương một thịt.
§2. Sau khi đã cử hành hôn nhân, nếu hai người phối ngẫu đã sống chung với nhau, thì hôn nhân được suy đoán là đã hoàn hợp cho đến khi có chứng cớ ngược lại.
§3. Hôn nhân bất thành được gọi là hôn nhân giả định, nếu ít là một trong hai người phối ngẫu đã cử hành hôn nhân vì ngay tình, cho đến khi cả hai người biết chắc là hôn nhân ấy bất thành.

Canon 1061

§1 A valid marriage between baptised persons is said to be merely ratified, if it is not consummated; ratified and consummated, if the spouses have in a human manner engaged together in a conjugal act in itself apt for the generation of offspring. To this act marriage is by its nature ordered and by it the spouses become one flesh.
§2 If the spouses have lived together after the celebration of their marriage, consummation is presumed until the contrary is proven.
§3 An invalid marriage is said to be putative if it has been celebrated in good faith by at least one party. It ceases to be such when both parties become certain of its nullity.

Điều 1062

§1. Lời hứa hôn đơn phương hoặc song phương, gọi là đính hôn, được chi phối bởi luật riêng do Hội Đồng Giám Mục ấn định, dựa theo phong tục và luật dân sự, nếu có.
§2. Lời hứa hôn không phát sinh tố quyền đòi phải cử hành hôn nhân, nhưng phát sinh tố quyền đòi đền bù thiệt hại theo mức độ đã gây ra.

Canon 1062

§1 A promise of marriage, whether unilateral or bilateral, called an engagement, is governed by the particular law which the Episcopal Conference has enacted, after consideration of such customs and civil laws as may exist.
§2 No right of action to request the celebration of marriage arises from a promise of marriage, but there does arise an action for such reparation of damages as may be due. CELEBRATION OF MARRIAGE

Điều 1063

Các vị chủ chăn các linh hồn buộc phải liệu sao cho cộng đoàn Giáo Hội của mình biết trợ giúp các Kitô hữu, để bậc hôn nhân được bảo tồn trong tinh thần Kitô giáo và tiến tới trong sự hoàn thiện. Việc trợ giúp này phải được thực hiện nhất là:1° bằng việc giảng thuyết, bằng việc huấn giáo thích hợp cho nhi đồng, thanh niên và người thành niên, và cũng bằng việc sử dụng các phương tịên truyền thông xã hội, nhờ đó các Kitô hữu được giáo huấn về ý nghĩa hôn nhân Kitô giáo và về vai trò của người phối ngẫu cũng như của các bậc cha mẹ Kitô giáo;2° bằng việc chuẩn bị cá nhân để kết hôn, nhờ đó hai vợ chồng được sẵn sàng hướng đến sự thánh thiện cũng như những bổn phận của bậc sống mới;3° bằng việc cử hành hôn nhân cách hữu hiệu theo phụng vụ, để minh hoạ rằng hai người phối ngẫu và biểu hiện của mầu nhiệm hiệp nhất và tình yêu phong phú giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, và họ tham dự vào mầu nhiệm ấy;4° bằng việc giúp đỡ các đôi vợ chồng, để khi trung thành gìn giữ và bảo vệ giao ước hôn nhân, họ biết sống cuộc đời đôi bạn ngày càng thánh thiện và hoàn hảo hơn.

Canon 1063

Pastors of souls are obliged to ensure that their own church community provides for Christ’s faithful the assistance by which the married state is preserved in its Christian character and develops in perfection. This assistance is to be given principally:1° by preaching, by catechetical instruction adapted to children, young people and adults, indeed by the use of the means of social communication, so that Christ’s faithful are instructed in the meaning of Christian marriage and in the role of Christian spouses and parents;2° by personal preparation for entering marriage, so that the spouses are disposed to the holiness and the obligations of their new state;3° by the fruitful celebration of the marriage liturgy, so that it clearly emerges that the spouses manifest, and participate in, the mystery of the unity and fruitful love between Christ and the Church;4° by the help given to those who have entered marriage, so that by faithfully observing and protecting their conjugal covenant, they may day by day achieve a holier and a fuller family life.

Điều 1064

Đấng Bản Quyền địa phương liệu sao để tổ chức chu đáo việc trợ giúp ấy, sau khi đã tham khảo ý kiến của các người nam cũng như nữ giàu kinh nghiệm và có chuyên môn, nếu thấy thuận tiện.

Canon 1064

It is the responsibility of the local Ordinary to ensure that this assistance is duly organised. If it is considered opportune, he should consult with men and women of proven experience and expertise.

Điều 1065

§1. Người công giáo nào chưa lãnh bí tích Thêm Sức, thì phải lãnh bí tích ấy trước khi kết hôn, nếu điều đó có thể thực hiện được mà không có bất tiện nghiêm trọng.
§2. Để lãnh nhận bí tích hôn nhân cách hữu hiệu, tha thiết khuyên nhủ đôi bạn nên lãnh nhận bí tích Sám Hối và bí tích Thánh Thể.

Canon 1065

§1 Catholics who have not yet received the sacrament of confirmation are to receive it before being admitted to marriage, if this can be done without grave inconvenience.
§2 So that the sacrament of marriage may be fruitfully received, spouses are earnestly recommended that they approach the sacraments of penance and the blessed Eucharist.

Điều 1066

Trước khi cử hành bí tích Hôn Nhân phải biết chắc không có gì cản trở việc cử hành bí tích thành sự và hợp thức

Canon 1066

Before a marriage takes place, it must be established that nothing stands in the way of its valid and lawful celebration.

Điều 1067

Hội Đồng Giám Mục phải ấn định những quy tắc về việc khảo hạch các đôi bạn, cũng như về việc rao hôn phối và về những phương thế thích hợp khác để thực hiện những cuộc điều tra, những việc đó là cần thiết trước khi cử hành hôn nhân; một khi những quy tắc ấy đã được tuân giữ cẩn thận, cha sở có thể tiến hành việc chứng hôn.

Canon 1067

The Episcopal Conference is to lay down norms concerning the questions to be asked of the parties, the publication of marriage banns, and the other appropriate means of enquiry to be carried out before marriage. Only when he has carefully observed these norms may the parish priest assist at a marriage. [According to an Authentic Interpretation of the former canon 1686 (pre-Mitis Iudex Dominus Iesus), 11.VII.1984, the pre-nuptial process in cann. 1066-1067 is sufficient for proving the state of freedom of those who, although bound to the canonical form, attempted marriage before a civil official or non-Catholic minister; in such cases the documentary process is not required]

Điều 1068

Trong cơn nguy tử, nếu không thể có những chứng cớ khác và nếu không có những dấu chỉ nghịch lại, thì chỉ cần đôi bạn cam kết, với lời thề nếu cần, rằng mình đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội và không mắc ngăn trở nào.

Canon 1068

In danger of death, if other proofs are not available, it suffices, unless there are contrary indications, to have the assertion of the parties, sworn if need be, that they are baptised and free of any impediment.

Điều 1069

Tất cả mọi tín hữu buộc phải trình báo cho cha sở hoặc cho Đấng Bản Quyền địa phương những ngăn trở mà họ biết được, trước khi hôn nhân được cử hành.

Canon 1069

Before the celebration of a marriage, all the faithful are bound to reveal to the parish priest or the local Ordinary such impediments as they may know about.

Điều 1070

Nếu người thực hiện việc điều tra không phải là cha sở có thẩm quyền chứng hôn, thì người này phải thông báo sớm hết sức cho cha sở biết kết quả việc điều tra ấy bằng một văn thư chính thức.

Canon 1070

If someone other than the parish priest whose function it is to assist at the marriage has made the investigations, he is by an authentic document to inform that parish priest of the outcome of these enquiries as soon as possible.

Điều 1071

§1. Trừ trường hợp cần thiết, nếu không có phép Đấng Bản Quyền địa phương, không ai được chứng hôn:1° hôn hân của những người không có cư sở;2° hôn nhân nào không thể được công nhận hay không thể được cử hành chiếu theo quy tắc của luật dân sự;3° hôn nhân của những người mắc những nghĩa vụ tự nhiên phát sinh do cuộc phối hợp trước, đối với bên kia hoặc đối với con cái;4° hôn nhân của người đã hiển nhiên chối bỏ đức tin Công giáo;5° hôn nhân của người còn đang bị mắc vạ;6° hôn nhân của người vị thành niên, khi cha mẹ không hay biết hoặc đã phản đối cách hợp lý;7° hôn nhân cử hành qua người đại diện, được nói đến ở điều 1105.
§2. Đấng Bản quyền địa phương không được ban phép chứng hôn cho người đã hiển nhiên chối bỏ đức tin Công giáo, trừ khi đã giữ các quy tắc được nói đến ở điều 1125, với những thích nghi cần thiết.

Canon 1071

§1 Except in a case of necessity, no one is to assist without the permission of the local Ordinary at:1° a marriage of vagi;2° a marriage which cannot be recognised by the civil law or celebrated in accordance with it;3° a marriage of a person for whom a previous union has created natural obligations towards a third party or towards children;4° a marriage of a person who has notoriously rejected the Catholic faith;5° a marriage of a person who is under censure;6° a marriage of a minor whose parents are either unaware of it or are reasonably opposed to it;7° a marriage to be entered by proxy, as mentioned in can. 1105.
§2 The local Ordinary is not to give permission to assist at the marriage of a person who has notoriously rejected the Catholic faith unless, with the appropriate adjustments, the norms of can. 1125 have been observed.

Điều 1072

Các vị chủ chăn các linh hồn phải liệu sao để ngăn cản việc cử hành hôn nhân của những người trẻ chưa tới tuổi, mà phong tục địa phương chấp nhận cho kết hôn.

Canon 1072

Pastors of souls are to see to it that they dissuade young people from entering marriage before the age customarily accepted in the region.

Điều 1073

Ngăn trở tiêu hôn làm cho người ta không có năng cách để kết hôn thành sự.

Canon 1073

A diriment impediment renders a person incapable of validly contracting a marriage.

Điều 1074

Ngăn trở được coi là công khai khi có thể chứng minh ở tòa ngoài; đối lại là ngăn trở kính đáo.

Canon 1074

An impediment is said to be public, when it can be proved in the external forum; otherwise, it is occult.

Điều 1075

§1. Việc chính thức tuyên bố khi nào luật Thiên Chúa cấm kết hôn hay tiêu hôn thuộc quyền bính tối cao của Giáo Hội mà thôi.
§2. Cũng chỉ có quyền bính tối cao ấy mới có quyền thiết lập những ngăn trở khác đối với những người đã được Rửa Tội.

Canon 1075

§1 Only the supreme authority in the Church can authentically declare when the divine law prohibits or invalidates a marriage.
§2 Only the same supreme authority has the right to establish other impediments for those who are baptised.

Điều 1076

Tục lệ nào du nhập một ngăn trở mới hoặc nghịch với những ngăn trở hiện có đều bị phi bác.

Canon 1076

A custom which introduces a new impediment, or is contrary to existing impediments, is to be reprobated.

Điều 1077

§1. Trong một trường hợp đặc biệt, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cấm những người thuộc quyền mình đang ở bất cứ nơi nào và mọi người hiện đang cư ngụ trong địa hạt của mình không được kết hôn, nhưng chỉ trong một thời gian mà thôi, vì một lý do nghiêm trọng và bao lâu lý do ấy còn kéo dài.
§2. Chỉ có quyền bính tối cao của Giáo Hội mới có thể thêm một điều khoản tiêu hôn vào lệnh cấm ấy.

Canon 1077

§1 The local Ordinary can in a specific case forbid a marriage of his own subjects, wherever they are residing, or of any person actually present in his territory; he can do this only for a time, for a grave reason and while that reason persists. [A Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 18306/2024, 10.VII.2024, clarifies that only the diocesan bishop and not the judicial vicar may remove a vetitum. The tribunal which imposed the vetitum may be “consulted” regarding its removal, but does not have power to remove it: see also the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 11248/2008, 21.IV.2008; and Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 17677/2022, 7.IV.2022, on the imposition of a vetitum according to can. 1077 and art. 251 of the Instruction Dignitas Connubi]
§2 Only the supreme authority in the Church can attach an invalidating clause to a prohibition.

Điều 1078

§1. Đấng Bản Quyền địa phương có thể miễn chuẩn cho những người thuộc quyền mình đang ở bất cứ nơi nào và mọi người đang cư ngụ trong địa hạt của mình khỏi mọi ngăn trở thuộc luật Giáo Hội, trừ những ngăn trở mà Tông Tòa dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn.
§2. Những ngăn trở mà Tông tòa dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn là:1° ngăn trở do các chức thánh, hoặc do lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh trong một hội dòng thuộc luật giáo hoàng;2° ngăn trở do tội ác được nói đến ở điều 1090.
§3. Không bao giờ được miễn chuẩn những ngăn trở do họ máu hang dọc hay họ máu hàng ngang bậc thứ hai.

Canon 1078

§1 The local Ordinary can dispense his own subjects wherever they are residing, and all who are actually present in his territory, from all impediments of ecclesiastical law, except for those whose dispensation is reserved to the Apostolic See.
§2 The impediments whose dispensation is reserved to the Apostolic See are:1° the impediment arising from sacred orders or from a public perpetual vow of chastity in a religious institute of pontifical right2° the impediment of crime mentioned in can. 1090.
§3 A dispensation is never given from the impediment of consanguinity in the direct line or in the second degree of the collateral line.

Điều 1079

§1. Trong những trường hợp nguy tử khẩn cấp, Đấng Bản Quyền địa phương có thể miễn chuẩn cho những người thuộc quyền mình đang ở bất cứ nơi nào hoặc mọi người đang cư ngụ trong địa hạt của mình khỏi phải giữ thể thức cử hành hôn nhân, và khỏi mọi ngăn trở, cũng như từng ngăn trở công khai hay kín đáo thuộc luật Giáo Hội, trừ ngăn trở do thánh chức linh mục.
§2. Trong cùng các hoàn cảnh được nói đến ở
§1, nhưng chỉ trong những trường hợp không thể đến với Đấng Bản Quyền địa phương được, thì cả cha sở hay thừa tác viên có chức thánh đã được ủy quyền hợp pháp, lẫn tư tế hay phó tế chứng hôn chiếu theo quy tắc của điều 1116
§2, đều có cùng một quyền miễn chuẩn ấy.
§3. Trong cơn nguy tử, cha giải tội có quyền miễn chuẩn những ngăn trở kín đáo ở tòa trong, vào lúc hoặc ngoài lúc ban bí tích Sám Hối.
§4. Trong trường hợp được nói đến ở
§2, phải được coi là không thể đến với Đấng Bản Quyền địa phương được, nếu chỉ có thể liên lạc với ngài qua điện tín hoặc điện thoại.

Canon 1079

§1 When danger of death threatens, the local Ordinary can dispense his own subjects, wherever they are residing, and all who are actually present in his territory, both from the form to be observed in the celebration of marriage, and from each and every impediment of ecclesiastical law, whether public or occult, with the exception of the impediment arising from the sacred order of priesthood.
§2 In the same circumstances mentioned in
§1, but only for cases in which not even the local Ordinary can be approached, the same faculty of dispensation is possessed by the parish priest, by a properly delegated sacred minister, and by the priest or deacon who assists at the marriage in accordance with can. 1116
§2.
§3 In danger of death, the confessor has the power to dispense from occult impediments for the internal forum, whether within the act of sacramental confession or outside it.
§4 In the case mentioned in
§2, the local Ordinary is considered unable to be approached if he can be reached only by telegram or by telephone.

Điều 1080

§1. Mỗi khi khám phá ra một ngăn trở vào lúc mọi sự đã sẵn sàng cho lễ cưới và không thể hoãn hôn lễ lại cho đến khi xin được phép chuẩn của nhà chức trách có thẩm quyền mà không có nguy cơ thiệt hại nặng nề có thể xảy ra, thì Đấng Bản Quyền địa phương có quyền miễn chuẩn tất cả mọi ngăn trở, trừ những ngăn trở được nói đến ở điều 1078
§2, 10, và nếu ngăn trở còn kín đáo, thì tất cả những vị được nói đến ở điều 1079 §
§2-3 cũng có quyền ấy, nhưng phải giữ những điều kiện mà điều này đòi buộc.
§2. Quyền này cũng có giá trị để thành sự hóa hôn nhân, nếu trì hoãn sẽ có nguy cơ như trên và nếu không đủ thời gian để nại đến Tông Tòa hoặc Đấng Bản Quyền địa phương, đối với những ngăn trở mà ngài có quyền miễn chuẩn được.

Canon 1080

§1 Whenever an impediment is discovered after everything has already been prepared for a wedding and the marriage cannot without probable danger of grave harm be postponed until a dispensation is obtained from the competent authority, the power to dispense from all impediments, except those mentioned in can. 1078
§2, n. 1, is possessed by the local Ordinary and, provided the case is occult, by all those mentioned in can. 1079 §
§2-3, the conditions prescribed therein having been observed.
§2 This power applies also to the validation of a marriage when there is the same danger in delay and there is no time to have recourse to the Apostolic See or, in the case of impediments from which he can dispense, to the local Ordinary.

Điều 1081

Cha sở hoặc tư tế hay phó tế được nói đến ở điều 1079
§2 phải lập tức thông báo cho Đấng Bản Quyền địa phương biết phép chuẩn đã được ban ở tòa ngoài và phải ghi phép chuẩn ấy vào sổ hôn phối.

Canon 1081

The parish priest or the priest or deacon mentioned in can. 1079
§2, should inform the local Ordinary immediately of a dispensation granted for the external forum, and this dispensation is to be recorded in the marriage register.

Điều 1082

Trừ khi phúc chiếu của Tòa Ân Giải quy định cách khác, phép chuẩn một ngăn trở kín đã được ban ở tòa trong nhưng ngoài bí tích, phải được ghi trong một cuốn sổ được lưu giữ cẩn thận tại văn khố mật của tòa giám mục, và nếu sau này ngăn trở thành công khai, thì không cần phải xin một phép chuẩn nào khác ở tòa ngoài.

Canon 1082

Unless a rescript of the Penitentiary provides otherwise, a dispensation from an occult impediment granted in the internal nonsacramental forum, is to be recorded in the book to be kept in the secret archive of the curia. No other dispensation for the external forum is necessary if at a later stage the occult impediment becomes public.

Điều 1083

§1. Người nam chưa trọn mười sáu tuổi, cũng như người nữ chưa trọn mười bốn tuổi, không thể kết hôn thành sự.
§2. Hội Đồng Giám Mục có trọn quyền ấn định tuổi cao hơn để kết hôn cách hợp thức.

Canon 1083

§1 A man cannot validly enter marriage before the completion of his sixteenth year of age, nor a woman before the completion of her fourteenth year.
§2 The Episcopal Conference may establish a higher age for the lawful celebration of marriage.

Điều 1084

§1. Bất lực giao hợp có trước khi kết hôn và vĩnh viễn, hoặc phía bên nam hoặc phía bên nữ, hoặc tuyệt đối hoặc tương đối, tự bản chất hủy tiêu hôn nhân.
§2. Nếu hồ nghi có ngăn trở bất lực, dù hồ nghi về luật hay về sự kiện, thì không được ngăn cản hôn nhân thì cũng không được tuyên bố là hôn nhân bất thành, bao lâu còn hồ nghi.
§3. Tình trạng son sẻ không ngăn cản và cũng không hủy tiêu hôn nhân, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1098.

Canon 1084

§1 Antecedent and perpetual impotence to have sexual intercourse, whether on the part of the man or on that of the woman, whether absolute or relative, by its very nature invalidates marriage.
§2 If the impediment of impotence is doubtful, whether the doubt be one of law or one of fact, the marriage is not to be prevented nor, while the doubt persists, is it to be declared null.
§3 Without prejudice to the provisions of can. 1098, sterility neither forbids nor invalidates a marriage.

Điều 1085

§1. Người đang bị ràng buộc bởi dây hôn nhân trước, dù chưa hòa hợp, thì kết hôn cũng bất thành.
§2. Dù hôn nhân trước bất thành hoặc được tháo gỡ vì bất cứ lý do nào, thì không vì đó mà được phép kết hôn lần nữa, trước khi thấy rõ cách hợp thức và chắc chắn rằng hôn nhân trước đã bất thành hoặc đã được tháo gỡ.

Canon 1085

§1 A person bound by the bond of a previous marriage, even if not consummated, invalidly attempts marriage.
§2 Even though the previous marriage is invalid or for any reason dissolved, it is not thereby lawful to contract another marriage before the nullity or the dissolution of the previous one has been established lawfully and with certainty.

Điều 1086

§1. Hôn nhân giữa một người đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo Hội ấy với một người không được Rửa Tội, thì bất thành.
§2. Không được miễn chuẩn ngăn trở này, trừ khi đã hội đủ các điều kiện được nói đến ở điều 1125 và 1126.
§3. Nếu vào lúc kết hôn, một bên vốn được coi là đã được Rửa Tội, hoặc hồ nghi về việc Rửa Tội của người ấy, thì chiếu theo quy tắc của điều 1060, hôn nhân phải được suy đoán là thành sự, cho đến khi chứng minh được cách chắc chắn là một bên đã được Rửa Tội, còn bên kia thì không.

Canon 1086

§1 A marriage between two persons, one of whom was baptized in the Catholic Church or received into it, and the other of whom is not baptized, is invalid. [Revised wording according to m.p. Omnium in mentem, 26.X.2009]
§2 This impediment is not to be dispensed unless the conditions mentioned in cann. 1125 and 1126 have been fulfilled.
§3 If at the time the marriage was contracted one party was commonly understood to be baptised, or if his or her baptism was doubtful, the validity of the marriage is to be presumed in accordance with can. 1060, until it is established with certainty that one party was baptised and the other was not.

Điều 1087

Những người đã lãnh nhận chức thánh kết hôn cũng bất thành.

Canon 1087

Those who are in sacred orders invalidly attempt marriage. [On the question of sacraments celebrated by a priest who has attempted marriage see Declaration of the Dicastery for Legislative Texts, 19.V.1997]

Điều 1088

Những người bị ràng buộc bởi lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh trong một hội dòng kết hôn cũng bất thành.

Canon 1088

Those who are bound by a public perpetual vow of chastity in a religious institute invalidly attempt marriage.

Điều 1089

Không thể có hôn nhân giữa một người nam và một người nữ bị bắt cóc hay ít là bị giam giữ với chủ ý kết hôn với người nữ ấy, trừ khi người nữ tự ý lựa chọn cuộc hôn nhân ấy, sau khi đã được tách rời khỏi người bắt cóc và được đặt ở một nơi an toàn và tự do.

Canon 1089

No marriage can exist between a man and a woman who has been abducted, or at least detained, with a view to contracting a marriage with her, unless the woman, after she has been separated from her abductor and established in a safe and free place, chooses marriage of her own accord.

Điều 1090

§1. Kẻ chủ ý kết hôn với một người nào đó mà gây ra cái chết cho người phối ngẫu của người ấy hay của mình, thì việc kết hôn này bất thành.
§2. Những người đã cộng tác với nhau cách thể lý hay luân lý để giết người phối ngẫu của họ, dù kết hôn với nhau cũng bất thành.

Canon 1090

§1 One who, with a view to entering marriage with a particular person, has killed that person’s spouse, or his or her own spouse, invalidly attempts this marriage.
§2 They also invalidly attempt marriage with each other who, by mutual physical or moral action, brought about the death of either’s spouse.

Điều 1091

§1. Những người có họ máu hàng dọc, từ dưới lên và từ trên xuống, hoặc pháp lý hoặc tự nhên, kết hôn với nhau bất thành.
§2. Trong họ máu hàng ngang, hôn nhân bất thành cho đến hết bậc thứ bốn.
§3. Ngăn trở họ máu không nhân cấp.
§4. không bao giờ cho phép kết hôn, nếu còn hồ nghi hai bên có họ máu với nhau ở bất cứ bậc nào thuộc hàng dọc hay ở bậc thứ hai thuộc hàng ngang.

Canon 1091

§1 Marriage is invalid between those related by consanguinity in all degrees of the direct line, whether ascending or descending, legitimate or natural.
§2 In the collateral line, it is invalid up to the fourth degree inclusive.
§3 The impediment of consanguinity is not multiplied.
§4 A marriage is never to be permitted if a doubt exists as to whether the parties are related by consanguinity in any degree of the direct line, or in the second degree of the collateral line.

Điều 1092

Những người có họ kết bạn ở bất cứ bậc nào thuộc hàng dọc kết hôn với nhau bất thành.

Canon 1092

Affinity in any degree of the direct line invalidates marriage.

Điều 1093

Ngăn trở công hạnh phát sinh từ một cuộc hôn nhân bất thành sau khi đã sống chung do tư hôn công khai hay hiển nhên; ngăn trở này tiêu hôn ở bậc thứ nhất thuộc hàng dọc giữa người chồng với những người nữ có họ máu với người vợ, và ngược lại.

Canon 1093

The impediment of public propriety arises when a couple live together after an invalid marriage, or from a notorious or public concubinage. It invalidates marriage in the first degree of the direct line between the man and those related by consanguinity to the woman, and vice versa.

Điều 1094

Những người có họ với nhau do việc nhận con nuôi được pháp luật công nhận kết hôn với nhau bất thành ở hàng dọc hoặc ở bậc thứ hai thuộc hàng ngang.

Canon 1094

Those who are legally related by reason of adoption cannot validly marry each other if their relationship is in the direct line or in the second degree of the collateral line.

Điều 1095

Không có khả năng kết hôn:1° những người không sử dụng đủ trí khôn;2° những người thiếu nghiêm trọng óc phán đoán về quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của việc trao ban và lãnh nhận nhau trong hôn nhân;3° những người không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân vì những nguyên nhân thuộc bản chất tâm lý.

Canon 1095

The following are incapable of contracting marriage:1° those who lack sufficient use of reason;2° those who suffer from a grave lack of discretionary judgement concerning the essential matrimonial rights and obligations to be mutually given and accepted;3° those who, because of causes of a psychological nature, are unable to assume the essential obligations of marriage.

Điều 1096

§1. Để có thể có sự ưng thuận hôn nhân, hai người kết ước ít nhất phải biết hôn nhân là một sự hiệp thông vĩnh viễn giữa môt người nam và một người nữ, nhắm đến việc sinh sản con cái do một sự cộng tác nào đó thuộc phạm vi phái tính.
§2. Sau tuổi dậy thì, phải suy đoán là có sự hiểu biết trên đây.

Canon 1096

§1 For matrimonial consent to exist, it is necessary that the contracting parties be at least not ignorant of the fact that marriage is a permanent partnership between a man and a woman, ordered to the procreation of children through some form of sexual cooperation.
§2 This ignorance is not presumed after puberty.

Điều 1097

§1. Sự lầm lẫn về nhân thân làm cho hôn nhân bất thành.
§2. Sự lầm lẫn về tư cách của một người, ngay cả khi tư cách ấy là nguyên nhân của khế ước, không làm cho hôn nhân bất thành, trừ khi tư cách ấy được nhắm đến cách trực tiếp và chủ yếu.

Canon 1097

§1 Error about a person renders a marriage invalid.
§2 Error about a quality of the person, even though it be the reason for the contract, does not render a marriage invalid unless this quality is directly and principally intended.

Điều 1098

Người kết hôn bị lừa gạt về một tư cách nào đó của phía bên kia, với chủ ý để mình ưng thuận, và nếu tư cách ấy tự bản chất có thể làm xáo trộn nghiêm trọng sự hiệp thông vợ chồng, thì hôn nhân bất thành.

Canon 1098

A person contracts invalidly who enters marriage inveigled by deceit, perpetrated in order to secure consent, concerning some quality of the other party, which of its very nature can seriously disrupt the partnership of conjugal life.

Điều 1099

Sự lầm lẫn về tính đơn nhất hay tính bất khả phân ly hoặc về phẩm giá bí tích của hôn nhân không làm cho sự ưng thuận hôn nhân bị hà tỳ, miễn là sự lầm lẫn ấy không chi phối ý chí.

Canon 1099

Provided it does not determine the will, error concerning the unity or the indissolubility or the sacramental dignity of marriage does not vitiate matrimonial consent.

Điều 1100

Việc biết hay tưởng rằng hôn nhân vô hiệu không nhất thiết loại trừ sự ưng thuận của hôn nhân.

Canon 1100

Knowledge of or opinion about the nullity of a marriage does not necessarily exclude matrimonial consent.

Điều 1101

§1. Sự ưng thuận trong lòng được suy đoán là phù hợp với những lời nói hay những dấu chỉ được sử dụng trong khi cử hành hôn nhân.
§2. Nếu một bên hay cả hai bên, bằng một hành vi tích cực của ý chí, loại trừ chính hôn nhân, hoặc một yếu tố chính yếu nào, hoặc một đặc tính chính yếu nào của hôn nhân, thì họ kết hôn với nhau bất thành.

Canon 1101

§1 The internal consent of the mind is presumed to conform to the words or the signs used in the celebration of a marriage.
§2 If, however, either or both of the parties should by a positive act of will exclude marriage itself or any essential element of marriage or any essential property, such party contracts invalidly.

Điều 1102

§1. Kết hôn với điều kiện về tương lai thì bất thành.
§2. Kết hôn với điều kiện về quá khứ hay hiện tại có thành sự hay không là tùy theo nội dung của điều kiện ấy có hay không.
§3. Tuy nhiên, điều kiện được nói đến ở
§2 không thể được đặt ra cách hợp pháp, trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương cho phép bằng văn bản.

Canon 1102

§1 Marriage cannot be validly contracted subject to a condition concerning the future.
§2 Marriage entered into subject to a condition concerning the past or the present is valid or not, according as whatever is the basis of the condition exists or not.
§3 However, a condition as mentioned in
§2 may not lawfully be attached except with the written permission of the local Ordinary.

Điều 1103

Hôn nhân bất thành, nếu vì bạo lực hay vì sợ hãi nghiêm trọng từ bên ngoài, mặc dầu không cố tình gây nên, người ta buộc phải lựa chọn hôn nhân để tự giải thoát.

Canon 1103

A marriage is invalid which was entered into by reason of force or of grave fear imposed from outside, even if not purposely, from which the person has no escape other than by choosing marriage. [This defect of consent can be applied to marriages of non- Catholics: see Authentic Interpretation of canon 1103, 23.IV.1987]

Điều 1104

§1. Để kết hôn thành sự, hai bên kết ước cần phải có mặt cùng một lúc, hoặc đích thân, hoặc qua người đại diện.
§2. Hai vợ chồng phải biểu lộ sự ưng thuận hôn nhân bằng lời nói, nhưng nếu không thể nói được, thì bằng những dấu hiệu tương đương.

Canon 1104

§1 To contract marriage validly it is necessary that the contracting parties be present together, either personally or by proxy.
§2 The spouses are to express their matrimonial consent in words; if, however, they cannot speak, then by equivalent signs.

Điều 1105

§1. Để việc kết hôn qua người đại diện được thành sự thì buộc:1° phải có một sự ủy nhiệm đặc biệt để kết hôn với một người nhất định;2° người đại diện phải phải được chính người ủy nhiệm chỉ định, và chính họ đích thân chu toàn phận sự.
§2. Để có hiệu lực, giấy ủy nhiệm phải được người ủy nhiệm ký tên, và ngoài ra còn phải có chữ ký của cha sở hay của Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi làm giấy ủy nhiệm, hoặc của một linh mục được một trong hai người ủy nhiệm, hoặc của ít nhất là hai nhân chứng, hoặc phải được soạn dựa vào một văn bản chính thức chiếu theo quy tắc của luật dân sự.
§3. Nếu người ủy nhiệm không biết viết, thì phải ghi chú điều ấy vào chính giấy ủy nhiệm và phải có thêm một nhân chứng khác, chính nhân chứng này cũng phải ký tên vào giấy ủy nhiệm; bằng không, giấy ủy nhiệm sẽ vô giá trị.
§4. Nếu người ủy nhiệm thu hồi giấy ủy nhiệm hoặc bị mất trí trước khi người đại diện kết hôn nhân danh người ủy nhiệm, thì hôn nhân bất thành, ngay cả khi người đại diện hay người kết ước kia không biết những việc đó.

Canon 1105

§1 For a marriage by proxy to be valid, it is required:1° that there be a special mandate to contract with a specific person;2° that the proxy be designated by the mandator and personally discharge this function;
§2 For the mandate to be valid, it is to be signed by the mandator, and also by the parish priest or local Ordinary of the place in which the mandate is given or by a priest delegated by either of them or by at least two witnesses, or it is to be drawn up in a document which is authentic according to the civil law.
§3 If the mandator cannot write, this is to be recorded in the mandate and another witness added who is also to sign the document; otherwise, the mandate is invalid.
§4 If the mandator revokes the mandate, or becomes insane, before the proxy contracts in his or her name, the marriage is invalid, even though the proxy or the other contracting party is unaware of the fact.

Điều 1106

Có thể kết hôn qua thông dịch viên; tuy nhiên, cha sở không được chứng hôn, trừ khi biết rõ lòng trung thực của thông dịch viên.

Canon 1106

Marriage can be contracted through an interpreter, but the parish priest may not assist at such a marriage unless he is certain of the trustworthiness of the interpreter.

Điều 1107

Ngay cả khi kết hôn bất thành vì có một ngăn trở hay vì thiếu thể thức, sự ưng thuận đã bày tỏ trước đây được suy đoán là vẫn còn, cho đến khi biết rõ là sự ưng thuận đã bi thu hồi lại.

Canon 1107

Even if a marriage has been entered into invalidly by reason of an impediment or defect of form, the consent given is presumed to persist until its withdrawal has been established. [See the annotation to canon 1161 (Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 18615/2025, 17.VII.2025)]

Điều 1108

§1. Hôn nhân chỉ thành sự khi được kết ước trước mặt vị chứng hôn, là Đấng Bản Quyền địa phương hay cha sở, hoặc một tư tế hay một phó tế đã được một rong hai vị trên ủy quyền, và trước mặt hai nhân chứng, nhưng phải theo những quy tắc được quy định trong những điều khoản sau đây, và miễn là vẫn giữ nguyên những biệt lệ được nói đến ở các điều 144, 1112
§1, 1116 và 1127 §
§1-2.
§2. Vị chứng hôn chỉ được hiểu là người hiện diện để yêu cầu hai bên kết ước biểu lộ sự ưng thuận và để nhân danh Giáo Hội chấp nhận sự biểu lộ ấy.

Canon 1108

§1 Only those marriages are valid which are contracted in the presence of the local Ordinary or parish priest or of the priest or deacon delegated by either of them, who, in the presence of two witnesses, assists, in accordance however with the rules set out in the following canons, and without prejudice to the exceptions mentioned in cann. 144, 1112
§1, 1116 and 1127 §
§2-3. [See Authentic Interpretation of canon 87
§1, 5.VII.1985 which states that outside the case of urgent danger of death a bishop may not grant a dispensation from canonical form for the marriage of two Catholics] [On whether a transgender person or a homosexual who is cohabiting may be a witness to a marriage see Dicastery for the Doctrine of the Faith, Answers to several questions, 31.X.2023, nos. 3 and 6]
§2 Only that person who, being present, asks the contracting parties to manifest their consent and in the name of the Church receives it, is understood to assist at a marriage.
§3. Only a priest validly assists at the marriage between two Eastern parties or between one Latin party and one Eastern Catholic or non-Catholic party. [New paragraph added by m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016]

Điều 1109

Chiếu theo chức vụ, Đấng Bản Quyền địa phương và cha sở chứng hôn thành sự trong giới hạn địa hạt của mình, chẳng những cho những người thuộc quyền, mà còn cho cả những người không thuộc quyền, miễn là một trong hai người thuộc lễ để Latinh, trừ khi các vị ấy bị vạ tuyệt thông, hoặc vạ cấm chế, hoặc bị huyền chức do án lệnh hay do sắc lệnh, hoặc đã bị tuyên bố như vậy.

Canon 1109

Unless the local ordinary and pastor have been excommunicated, interdicted, or suspended from office or declared such through a sentence or decree, by virtue of their office and within the confines of their territory they assist validly at the marriages not only of their subjects but also of those who are not their subjects, provided that at least one of the two parties is ascribed to the Latin Church. [Revised wording according to m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016]

Điều 1110

Đấng Bản Quyền và cha sở tòng nhân, chiếu theo chức vụ, chỉ chứng hôn thành sự cho những đôi nào, mà ít ra một người kết ước là người thuộc quyền mình, trong giới hạn thẩm quyền của mình.

Canon 1110

A personal Ordinary and a personal parish priest by virtue of their office validly assist, within the confines of their jurisdiction, at the marriages only of those of whom at least one party is their subject.

Điều 1111

§1. Bao lâu còn chu toàn giáo vụ của mình cách hữu hiệu, Đấng Bản Quyền địa phương và cha sở có thể ủy nhiệm năng quyền, kể cả năng quyền tổng quát, cho các tư tế và phó tế, để chứng hôn trong giới hạn của địa hạt mình.
§2. Để được hữu hiệu, việc ủy nhiệm năng quyền chứng hôn phải được minh nhiên ban cho những người nhất định; nếu là một sự ủy quyền riêng biệt, thì có giá trị đối với một hôn nhân nhất định, còn nếu là một sự ủy nhiệm tổng quát, thì phải ban bằng văn bản.

Canon 1111

§1 As long as they hold office validly, the local ordinary and the pastor can delegate to priests and deacons the faculty, even a general one, of assisting at marriages within the limits of their territory, without prejudice to the provision of can. 1108
§3. [Revised wording according to m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016] [A letter of the Pontifical Commission Ecclesia Dei, 27.III.2017, authorizes Ordinaries to give permission for marriages of members of the Society of Saint Pius X to be validly and lawfully celebrated in the Catholic Church]
§2 In order that the delegation of the faculty to assist at marriages be valid, it must be expressly given to specific persons; if there is question of a special delegation, it is to be given for a specific marriage; if however there is question of a general delegation, it is to be given in writing.

Điều 1112

§1. Ở đâu thiếu tư tế và phó tế, Giám Mục giáo phận có thể ủy quyền cho giáo dân để chứng hôn, sau khi được Hội Đồng Giám Mục chấp thuận và được Tòa Thánh ban phép.
§2. Phải chọn một người giáo dân có khả năng xứng hợp để có thể đào tạo các đôi vợ chồng tương lai và có đủ tư cách cử hành phụng vụ hôn nhân cách đúng phép.

Canon 1112

§1 With the prior favourable opinion of the conference of bishops and after the permission of the Holy See has been obtained, the diocesan bishop can delegate lay persons to assist at marriages where priests or deacons are lacking, without prejudice to the provision of can. 1108
§3. [Revised wording according to m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016]
§2 A suitable lay person is to be selected, capable of giving instruction to those who are getting married, and fitted to conduct the marriage liturgy properly.

Điều 1113

Trước khi ban ủy quyền riêng biệt, phải chu toàn tất cả những gì luật đã ấn định để chứng minh tình trạng thong dong của các bên.

Canon 1113

§1 Before a special delegation is granted, provision is to be made for all those matters which the law prescribes to establish the freedom to marry.

Điều 1114

Người chứng hôn hành động bất hợp pháp, nếu họ không có sự xác tín về tình trạng thong dong của những người kết ước chiếu theo quy định của luật cũng như về phép của cha sở, nếu có thể, mỗi khi họ chứng hôn do một sự ủy quyền tổng quát.

Canon 1114

One who assists at a marriage acts unlawfully unless he has satisfied himself of the parties’ freedom to marry in accordance with the law and, whenever he assists by virtue of a general delegation, has satisfied himself of the parish priest’s permission, if this is possible.

Điều 1115

Hôn nhân phải được cử hành tại giáo xứ mà một trong hai người kết ước có cư sở hoặc bán cư sở hay đã cư ngụ một tháng, hoặc nếu là những người không có cư sở, phải được cử hành tại giáo xứ mà họ đang cư ngụ; hôn nhân có thể được cử hành tại nơi khác, khi có phép của Đấng Bản Quyền riêng hay của cha sở riêng.

Canon 1115

Marriages are to be celebrated in the parish in which either of the contracting parties has a domicile or a quasi-domicile or a month’s residence or, if there is question of vagi, in the parish in which they are actually residing. With the permission of the proper Ordinary or the proper parish priest, marriages may be celebrated elsewhere.

Điều 1116

§1. Nếu không thể có hay không thể đến với một vị chứng hôn có thẩm quyền chiếu theo quy tắc của luật, mà không gặp bất tiện nặng, thì những người nào muốn kết hôn thật sự, có thể kết hôn cách thành sự và hợp pháp trước mặt các nhân chứng mà thôi:1° trong trường hợp nguy tử;2° ngoài trường hợp nguy tử, miễn là dự đoán theo sự khôn ngoan rằng tình trạng ấy sẽ kéo dài suốt tháng.
§2. Trong cả hai trường hợp, nếu có một tư tế hay một phó tế khác có thể hiện diện, thì phải mời vị ấy đến chứng kiến buổi cử hành hôn lễ cùng với các nhân chứng, mặt dù hôn nhân trước mặt các nhân chứng mà thôi vẫn thành sự.

Canon 1116

§1 If one who, in accordance with the law, is competent to assist, cannot be present or be approached without grave inconvenience, those who intend to enter a true marriage can validly and lawfully contract in the presence of witnesses only:1° in danger of death;2° apart from danger of death, provided it is prudently foreseen that this state of affairs will continue for a month.
§2 In either case, if another priest or deacon is at hand who can be present, he must be called upon and, together with the witnesses, be present at the celebration of the marriage, without prejudice to the validity of the marriage in the presence of only the witnesses.
§3 In addition to the provisions established in
§1, nn. 1 and 2, the local ordinary can confer to any Catholic priest the faculty to bless the marriage of faithful Christians of the Eastern Churches who are not in full communion with the Catholic Church if they request it spontaneously, and provided there is nothing to preclude the valid and licit celebration of the marriage. The same priest, however, with the necessary prudence, shall inform the competent authority of the interested non-Catholic Church of the case. [New paragraph added by m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016]

Điều 1117

Phải tuân giữ thể thức ấn định ở trên, nếu ít là một trong hai bên kết ước đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hay đã được nhận vào Giáo Hội Công giáo, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định ở điều 1127
§2.

Canon 1117

The form prescribed above must be observed if at least one of the parties contracting the marriage was baptized in the Catholic Church or received into it, without prejudice to the provisions of can. 1127
§2. [Revised wording according to m.p. Omnium in mentem, 26.X.2009] [See Authentic Interpretation of canon 87
§1, 5.VII.1985 which states that outside the case of urgent danger of death a bishop may not grant a dispensation from canonical form for the marriage of two Catholics]

Điều 1118

§1. Hôn nhân giữa hai người Công giáo hoặc giữa một người Công giáo và một người đã được Rửa Tội ngoài Giáo Hội Công giáo phải được cử hành trong nhà thờ giáo xứ, hôn nhân này có thể cử hành trong một nhà thờ khác hoặc trong một nhà nguyện, nếu có phép của Đấng Bản Quyền địa phương hay của cha sở.
§2. Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép cử hành hôn nhân tại một nơi thích hợp khác.
§3. Hôn nhân giữa một người Công giáo và một người không được Rửa Tội có thể được cử hành trong nhà thờ hay tại một nơi thích hợp khác.

Canon 1118

§1 A marriage between Catholics, or between a Catholic party and a baptised non-Catholic, is to be celebrated in the parish church. By permission of the local Ordinary or of the parish priest, it may be celebrated in another church or oratory.
§2 The local Ordinary can allow a marriage to be celebrated in another suitable place.
§3 A marriage between a Catholic party and an unbaptised party may be celebrated in a church or in another suitable place.

Điều 1119

Ngoài trường hợp cần thiết, khi cử hành hôn nhân phải tuân giữ các nghi lễ đã được quy định trong các sách phụng vụ do Giáo Hội phê chuẩn, hoặc đã được du nhập do các tục lệ hợp pháp.

Canon 1119

Apart from a case of necessity, in the celebration of marriage those rites are to be observed which are prescribed in the liturgical books approved by the Church, or which are acknowledged by lawful customs.

Điều 1120

Hội Đồng Giám Mục có thể soạn thảo một nghi lễ hôn nhân riêng, nghi lễ này phải được Tông Tòa chuẩn nhận và phải lưu ý đến những tục lệ địa phương và dân gian đã được thích nghi với tinh thần Kitô giáo, nhưng vẫn giữ nguyên luật buộc vị chứng hôn hiện diện phải yêu cầu những người kết ước biểu lộ sự ưng thuận và phải chấp nhận sự biểu lộ ấy.

Canon 1120

The Episcopal Conference can draw up its own rite of marriage, in keeping with those usages of place and people which accord with the Christian spirit; it is to be reviewed by the Holy See, and it is without prejudice to the law that the person who is present to assist at the marriage is to ask for and receive the expression of the consent of the contracting parties. [On the juridical nature and scope of the review (recognitio) see Explanatory Note of the Dicastery for Legislative Texts, 28.IV.2006]

Điều 1121

§1. Một khi hôn nhân đã được cử hành, cha sở nơi cử hành hôn nhân hay vị thay thế ngài, cho dù không ai là người chứng hôn, phải sớm hết sức ghi vào sổ hôn nhân tên của đôi vợ chồng, của vị chứng hôn và của các nhân chứng, nơi và ngày cử hành hôn nhân, theo thể thức do Hội Đồng Giám Mục hay Giám Mục giáo phận quy định.
§2. Mỗi khi hôn nhân được kết ước chiếu theo quy tắc của điều 1116, tư tế hay phó tế, nếu đã có mặt trong hôn lễ, hoặc nếu không thì các nhân chứng, buộc phải liên đới với những người kết ước để thông báo sớm hết sức cho cha sở hoặc Đấng Bản Quyền địa phương biết hôn nhân đã được kết ước.
§3. Về hôn nhân đã được kết ước với phép chuẩn khỏi giữ thể thức giáo luật, Đấng Bản Quyền địa phương đã ban phép chuẩn phải liệu sao để phép chuẩn và việc cử hành được ghi vào sổ hôn nhân của tòa giám mục cũng như của giáo xứ riêng phía bên Công giáo mà cha sở đã điều tra về tình trạng thong dong. Người phối ngẫu Công giáo buộc phải thông báo sớm hết sức cho Đấng Bản Quyền và cha sở biết là hôn nhân đã được cử hành, cũng phải chỉ rõ nơi cử hành và thể thức công khai đã tuân giữ.

Canon 1121

§1 As soon as possible after the celebration of a marriage, the parish priest of the place of celebration or whoever takes his place, even if neither has assisted at the marriage, is to record in the marriage register the names of the spouses, of the person who assisted and of the witnesses, and the place and date of the celebration of the marriage; this is to be done in the manner prescribed by the Episcopal Conference or by the diocesan Bishop.
§2 Whenever a marriage is contracted in accordance with can. 1116, the priest or deacon, if he was present at the celebration, otherwise the witnesses, are bound jointly with the contracting parties as soon as possible to inform the parish priest or the local Ordinary about the marriage entered into.
§3 In regard to a marriage contracted with a dispensation from the canonical form, the local Ordinary who granted the dispensation is to see to it that the dispensation and the celebration are recorded in the marriage register both of the curia, and of the proper parish of the Catholic party whose parish priest carried out the inquiries concerning the freedom to marry. The Catholic spouse is obliged as soon as possible to notify that same Ordinary and parish priest of the fact that the marriage was cele brated, indicating also the place of celebration and the public form whichwas observed.

Điều 1122

§1. Việc kết ước hôn nhân cũng phải được ghi chú vào sổ Rửa Tội, trong đó đã ghi việc lãnh nhận bí tích Rửa Tội của hai vợ chồng.
§2. Nếu một người phối ngẫu không kết ước hôn nhân trong giáo xứ mình đã được Rửa Tội, thì cha sở nơi cử hành hôn lễ phải thông báo sớm hết sức cho cha sở nơi đương sự đã được Rửa Tội biết là hôn nhân đã được ký kết.

Canon 1122

§1 A marriage which has been contracted is to be recorded also in the baptismal registers in which the baptism of the spouses was entered.
§2 If a spouse contracted marriage elsewhere than in the parish of baptism, the parish priest of the place of celebration is to send a notification of the marriage as soon as possible to the parish priest of the place of baptism.

Điều 1123

Mỗi khi hôn nhân hoặc được thành sự hóa ở tòa ngoài, hoặc được tuyên bố là bất thành, hoặc được tháo gỡ cách hợp thức vì một lý do khác ngoài lý do tử vong, thì phải thông báo cho cha sở nơi cử hành hôn nhân biết điều ấy, để ghi chú đầy đủ vào sổ hôn phối và sổ Rửa Tội.

Canon 1123

Whenever a marriage is validated for the external forum, or declared invalid, or lawfully dissolved other than by death, the parish priest of the place of the celebration of the marriage must be informed, so that an entry may be duly made in the registers of marriage and of baptism.

Điều 1124

Nếu không có phép minh nhiên của thẩm quyền, cấm kết hôn giữa hai người đã được Rửa Tội, mà một người đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo Hội Công giáo sau khi được Rửa Tội, còn người kia đã gia nhập vào một Giáo Hội hoặc một cộng đoàn Giáo Hội không thông hiệp trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo.

Canon 1124

Marriage between two baptized persons, one of whom was baptized in the Catholic Church or received into it after baptism, and the other a member of a Church or ecclesial community not in full communion with the Catholic Church, cannot be celebrated without the express permission of the competent authority. [Revised wording according to m.p. Omnium in mentem, 26.X.2009]

Điều 1125

Đấng Bản Quyền địa phương có thể ban phép trên đây, nếu có một lý do chính đáng và hợp lý, nhưng không được ban phép ấy, nếu không hội đủ điều kiện sau đây:1° bên Công giáo phải tuyên bố mình sẵn sàng tránh mọi nguy cơ mất đức tin và thành thật cam kết sẽ làm hết sức để tất cả con cái được Rửa Tội và được giáo dục trong Giáo Hội Công giáo;2° phải kịp thời thông báo thế nào cho bên không Công giáo biết những điều bên Công giáo phải cam kết, để họ ý thức thật sự về lời cam kết và nghĩa vụ của bên Công giáo;3° cả hai bên phải được giáo huấn về những mục đích và đặc tính chính yếu của hôn nhân mà không bên nào được phép loại bỏ.

Canon 1125

The local Ordinary can grant this permission if there is a just and reasonable cause. He is not to grant it unless the following conditions are fulfilled:1° the Catholic party is to declare that he or she is prepared to remove dangers of defecting from the faith, and is to make a sincere promise to do all in his or her power in order that all the children be baptised and brought up in the Catholic Church;2° the other party is to be informed in good time of these promises to be made by the Catholic party, so that it is certain that he or she is truly aware of the promise and of the obligation of the Catholic party;3° both parties are to be instructed about the purposes and essential properties of marriage, which are not to be excluded by either contractant.

Điều 1126

Hội Đồng Giám Mục ấn định thể thức làm tờ tuyên bố và cam kết mà luật luôn đòi buộc, cũng như quy định thể thức thực hiện ở tòa ngoài và thể thức thông báo cho bên không Công giáo biết điều ấy.

Canon 1126

It is for the Episcopal Conference to prescribe the manner in which these declarations and promises, which are always required, are to be made, and to determine how they are to be established in the external forum, and how the non-Catholic party is to be informed of them.

Điều 1127

§1. Về thể thức được áp dụng trong hôn nhân hỗn hợp, phải tuân giữ những quy định của điều 1108; tuy nhiên, nếu bên Công giáo kết hôn với bên không Công giáo thuộc lễ điển Đông Phương, thì thể thức cử hành theo giáo luật phải được tuân giữ để hôn nhân được hợp thức mà thôi; nhưng để hôn nhân được thành sự, thì buộc phải có sự can thiệp của thừa tác viên có chức thánh, miễn là vẫn giữ những luật khác phải giữ.
§2. Nếu có những khó khăn nghiêm trọng ngăn cản việc tuân giữ thể thức giáo luật, Đấng Bản Quyền địa phương bên Công giáo có quyền miễn chuẩn khỏi giữ thể thức ấy trong từng trường hợp, nhưng phải tham khảo ý kiến của Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi cử hành hôn nhân và phải giữ một thể thức cử hành công khai nào đó, để hôn nhân được thành sự; việc ấn định những quy tắc để ban phép chuẩn nói trên một cách đồng nhất thuộc Hội Đồng Giám Mục.
§3. Dù trước hay sau khi cử hành hôn nhân theo giáo luật chiếu theo quy tắc của
§1, cấm cử hành hôn nhân theo nghi thức tôn giáo một lần nữa để bày tỏ hay lặp lại sự ưng thuận hôn nhân; cũng không được cử hành nghi thức tôn giáo, trong đó vị chứng hôn Công giáo và thừa tác viên không Công giáo cùng yêu cầu các bên bày tỏ sự ưng thuận, mỗi vị cử hành theo nghi thức của mình.

Canon 1127

§1 The prescripts of can. 1108 are to be observed for the form to be employed in a mixed marriage; if however a Catholic party contracts marriage with a non-Catholic party of an Eastern Rite, the canonical form of the celebration must be observed for liceity only; for validity, however, the presence of a priest is required notwithstanding whatever else is to be observed in accordance with the law. [Revised wording according to m.p. De concordia inter Codices, 31.V.2016]
§2 If there are grave difficulties in the way of observing the canonical form, the local Ordinary of the Catholic party has the right to dispense from it in individual cases, having however consulted the Ordinary of the place of the celebration of the marriage; for validity, however, some public form of celebration is required. It is for the Episcopal Conference to establish norms whereby this dispensation may be granted in a uniform manner.
§3 It is forbidden to have, either before or after the canonical celebration in accordance with
§1, another religious celebration of the same marriage for the purpose of giving or renewing matrimonial consent. Likewise, there is not to be a religious celebration in which the Catholic assistant and a non-Catholic minister, each performing his own rite, ask for the consent of the parties.

Điều 1128

Cá Đấng Bản Quyền địa phương và những vị chủ chăn các linh hồn khác phải liệu sao để người phối ngẫu Công giáo và con cái sinh ra do hôn nhân hỗn hợp không thiếu sự trợ giúp về phương diện thiêng liêng, để họ chu toàn nghĩa vụ của mình, và các ngài phải giúp đôi phối ngẫu hiệp nhất với nhau trong đời sống vợ chồng và gia đình.

Canon 1128

Local Ordinaries and other pastors of souls are to see to it that the Catholic spouse and the children born of a mixed marriage are not without the spiritual help needed to fulfil their obligations; they are also to assist the spouses to foster the unity of conjugal and family life.

Điều 1129

Các quy định của những điều 1127 và 1128 cũng được áp dụng cho những hôn nhân mắc ngăn trở dị giáo được nói đến ở điều 1086
§1.

Canon 1129

The provisions of cann. 1127 and 1128 are to be applied also to marriages which are impeded by the impediment of disparity of worship mentioned in can. 1086
§1.

Điều 1130

Vì một lý do nghiêm trọng và khẩn cấp, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép cử hành hôn nhân cách kín đáo.

Canon 1130

For a grave and urgent reason, the local Ordinary may permit that a marriage be celebrated in secret.

Điều 1131

Phép cho cử hành hôn nhân cách kín đáo đòi buộc:1° phải kín đáo thực hiện việc điều tra trước hôn nhân;2° Đấng Bản Quyền địa phương, vị chứng hôn, các nhân chứng, đôi vợ chồng, phải giữ bí mật về hôn nhân đã được cử hành.

Canon 1131

Permission to celebrate a marriage in secret involves:1° that the investigations to be made before the marriage are carried out in secret;2° that the secret in regard to the marriage which has been celebrated is observed by the local Ordinary, by whoever assists, by the witnesses and by the spouses.

Điều 1132

Đấng Bản Quyền địa phương hết nghĩa vụ giữ bí mật được nói đến ở điều 1131, 20, nếu việc giữ bí mật có nguy cơ sinh ra gương xấu nghiêm trọng, hoặc làm tổn thương sự thánh thiện của hôn nhân cách nặng nề, và phải thông báo cho đôi bạn biết điều đó trước khi cử hành hôn nhân.

Canon 1132

The obligation of observing the secret mentioned in can. 1131 n. 2 ceases for the local Ordinary if from its observance a threat arises of grave scandal or of grave harm to the sanctity of marriage. This fact is to be made known to the parties before the celebration of the marriage.

Điều 1133

Hôn nhân đã được cử hành cách bí mật phải được ghi trong sổ riêng mà thôi và sổ này phải được lưu giữ trong văn khố mật của tòa giám mục.

Canon 1133

A marriage celebrated in secret is to be recorded only in a special register which is to be kept in the secret archive of the curia.

Điều 1134

Từ cuộc hôn nhân thành sự giữa những người phối ngẫu nẩy sinh một mối dây liên kết vĩnh viễn và độc hữu tự bản chất; ngoài ra, trong hôn nhân Kitô giáo, những người phối ngẫu được củng cố và như được thánh hiến do một bí tích đặc biệt để chu toàn nghĩa vụ và nâng cao phẩm giá bậc sống của mình.

Canon 1134

From a valid marriage there arises between the spouses a bond which of its own nature is permanent and exclusive. Moreover, in Christian marriage the spouses are by a special sacrament strengthened and, as it were, consecrated for the duties and the dignity of their state.

Điều 1135

Mỗi người phối ngẫu đều có nghĩa vụ và quyền lợi bình đẳng trong tất cả những gì liên quan đến sự hiệp thông vợ chồng.

Canon 1135

Each spouse has an equal obligation and right to whatever pertains to the partnership of conjugal life.

Điều 1136

Các bậc cha mẹ có nghĩa vụ rất nặng nề và có quyền ưu tiên chăm lo giáo dục con cái hết sức mình vừa về phương diện thể lý, xã hội và văn hóa, vừa về phương diện luân lý và tôn giáo.

Canon 1136

Parents have the most grave obligation and the primary right to do all in their power to ensure their children’s physical, social, cultural, moral and religious upbringing.

Điều 1137

Con cái được thụ thai hoặc được sinh ra do hôn nhân thành sự hay giả định đều là con cái hợp thức.

Canon 1137

Children who are conceived or born of a valid or of a putative marriage are legitimate.

Điều 1138

§1. Người cha là người được hôn nhân hợp pháp chỉ định, trừ khi có những luận chứng hiển nhiên chứng minh ngược lại.
§2. Những đứa con được sinh ra sau khi cử hành hôn nhân nhất là một trăm tám mươi ngày, hoặc trong vòng ba trăm ngày, kể từ khi đời sống vợ chồng tan vỡ, đều được coi là con cái hợp thức.

Canon 1138

§1 The father is he who is identified by a lawful marriage, unless by clear arguments the contrary is proven.
§2 Children are presumed legitimate who are born at least 180 days after the date the marriage was celebrated, or within 300 days from the date of the dissolution of conjugal life.

Điều 1139

Những đứa con bất hợp pháp được hợp thức hóa do hôn nhân sau của cha mẹ, dù là hôn nhân thành sự hay hôn nhân giả định, hoặc do phúc chiếu của Tòa Thánh.

Canon 1139

Illegitimate children are legitimated by the subsequent marriage of their parents, whether valid or putative, or by a rescript of the Holy See.

Điều 1140

Về hiệu quả theo pháp luật, con cái đã được hợp thức hóa cũng ngang hàng với con cái hợp thức trong mọi sự, trừ khi luật đã minh nhiên quy định cách khác.

Canon 1140

As far as canonical effects are concerned, legitimated children are equivalent to legitimate children in all respects, unless it is otherwise expressly provided by the law.

Điều 1141

Hôn nhân thành nhận và hòa hợp không thể được tháo gỡ do bất cứ quyền bính nhân loại nào và vì bất cứ lý do nào, trừ lý do tử vong.

Canon 1141

A marriage which is ratified and consummated cannot be dissolved by any human power or by any cause other than death.

Điều 1142

Hôn nhân bất hoà hợp giữa người đã được Rửa Tội hay giữa một người đã được Rửa Tội và một không được Rửa Tội, có thể được Đức Giáo Hoàng Rôma tháo gỡ vì một lý do chính đáng, do lời thỉnh cầu của cả hai người hoặc của một người mà thôi, mặc dầu người kia không bằng lòng.

Canon 1142

A non-consummated marriage between baptised persons or between a baptised party and an unbaptised party can be dissolved by the Roman Pontiff for a just reason, at the request of both parties or of either party, even if the other is unwilling.

Điều 1143

§1. Hôn nhân giữa hai người không chịu phép Rửa Tội được tháo gỡ nhờ đặc ân thánh Phaolô vì lợi ích đức tin của người đã được Rửa Tội do chính sự kiện người ấy tái hôn, miễn là người không được Rửa Tội chia tay người ấy.
§2. Người không chịu phép Rửa Tội được kể là chia tay, nếu không muốn sống chung với người đã được Rửa Tội hay không muốn sống chung hòa thuận mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa, trừ trường hợp sau khi chịu phép Rửa Tội, người được Rửa Tội đã gây ra nguyên nhân chính đáng để người kia chia tay.

Canon 1143

§1 In virtue of the pauline privilege, a marriage entered into by two unbaptised persons is dissolved in favour of the faith of the party who received baptism, by the very fact that a new marriage is contracted by that same party, provided the unbaptised party departs. [Regarding protocol for cases in favorem fidei see Dicastery for the Doctrine of the Faith, Letter, 24.X.2023]
§2 The unbaptised party is considered to depart if he or she is unwilling to live with the baptised party, or to live peacefully without offence to the Creator, unless the baptised party has, after the reception of baptism, given the other just cause to depart.

Điều 1144

§1. Để người được Rửa Tội tái hôn thành sự, thì luôn luôn phải chất vấn người không chịu phép Rửa tội để biết:1° người này có muốn được Rửa Tội hay không;2° ít là người này có muốn sống chung hòa thuận với người đã được Rửa Tội mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa hay không.
§2. Việc chất vấn này phải được thực hiện sau khi đương sự đã được Rửa Tội, nhưng vì một lý do quan trọng, Đấng bản Quyền địa phương có thể cho phép thực hiện việc chất vấn ấy trước khi đương sự được Rửa Tội và cũng có thể miễn chuẩn khỏi phải chất vấn hoặc trước hoặc sau khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, miễn sao thấy rõ là không thể thực hiện được việc chất vấn ấy hoặc có chất vấn cũng vô ích, qua một thủ tục ít là đơn giản và ngoài tòa án.

Canon 1144

§1 For the baptised person validly to contract a new marriage, the unbaptised party must always be interpellated whether:1° he or she also wishes to receive baptism;2° he or she at least is willing to live peacefully with the baptised party without offence to the Creator.
§2 This interpellation is to be done after baptism. However, the local Ordinary can for a grave reason permit that the interpellation be done before baptism; indeed he can dispense from it, either before or after baptism, provided it is established, by at least a summary and extrajudicial procedure, that it cannot be made or that it would be useless.

Điều 1145

§1. Theo nguyên tắc chung, quyền bính của Đấng Bản Quyền địa phương của bên đã trở lại phải thực hiện việc chất vấn ấy, Đấng Bản quyền này phải cho người phối ngẫu kia một thời hạn để trả lời nếu họ xin, nhưng phải cho họ biết rằng khi thời gian đó trôi qua vô ích, thì sự im lặng của họ được coi là một lời từ chối.
§2. Việc chất vấn, ngay cả khi chính bên trở lại làm riêng tư, cũng có giá trị và hợp pháp nữa, nếu không thể tuân giữ thể thức đã được quy định ở trên.
§3. Trong cả hai trường hợp, sự kiện chất vấn và kết quả của việc chất vấn ấy phải được xác minh cách hợp thức ở tòa ngoài.

Canon 1145

§1 As a rule, the interpellation is to be done on the authority of the local Ordinary of the converted party. A period of time for reply is to be allowed by this Ordinary to the other party, if indeed he or she asks for it, warning the person however that if the period passes without any reply, silence will be taken as a negative response.
§2 Even an interpellation made privately by the converted party is valid, and indeed it is lawful if the form prescribed above cannot be observed.
§3 In both cases there must be lawful proof in the external forum of the interpellation having been done and of its outcome.

Điều 1146

Người đã được Rửa Tội có quyền tái hôn với người Công giáo:1° nếu bên kia đã trả lời từ chối khi được chất vấn, hoặc nếu việc chất vấn đã được bỏ qua cách hợp thức;2° nếu bên không chịu phép Rửa Tội, dù đã được chất vấn hay không, ban đầu vẫn sống chung hòa thuận mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa, sau đó đã chia tay mà không có một lý do chính đáng nào, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1144 và 1145.

Canon 1146

The baptised party has the right to contract a new marriage with a Catholic:1° if the other party has replied in the negative to the interpellation, or if the interpellation has been lawfully omitted;2° if the unbaptised person, whether already interpellated or not, who at first persevered in peaceful cohabitation without offence to the Creator, has subsequently departed without just cause, without prejudice to the provisions of cann. 1144 and 1145.

Điều 1147

Tuy nhiên, vì một lý do nghiêm trọng, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép bên đã được Rửa Tội dùng đặc ân thánh Phaolô để kết hôn với bên không Công giáo đã được Rửa Tội hay không, nhưng cũng phải tuân giữ những điều mà luật đã quy định về hôn nhân hỗn hợp.

Canon 1147

However, the local Ordinary can for a grave reason allow the baptised party, using the pauline privilege, to contract marriage with a non-Catholic party, whether baptised or unbaptised; in this case, the provisions of the canons on mixed marriages must also be observed.

Điều 1148

§1. Một người đàn ông chưa chịu phép Rửa Tội đồng thời có nhiều vợ không chịu phép Rửa Tội, sau khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo, nếu khó sống với người vợ cả, thì có thể giữ lại một trong số những người vợ ấy, sau khi đã bỏ những người vợ khác. Điều trên đây cũng có giá trị đối với những người phụ nữ chưa chưa chịu phép Rửa Tội đồng thời có nhiều chồng không chịu phép Rửa Tội.
§2. Trong trường hợp được nói đến ở
§1, sau khi đã lãnh nhận bí tich Rửa Tội, hôn nhân phải được cử hành theo thể thức hợp thức, và nếu cần thì cũng phải giữ những quy định về hôn nhân hỗn hợp, cũng như những quy định khác mà luật buộc phải giữ.
§3. Lưu ý đến hoàn cảnh luân lý, xã hội, kinh tế của địa phương và của con người, Đấng Bản Quyền địa phương phải liệu sao để bảo đảm đủ cho những nhu cầu của người vợ cả và những người vợ khác đã bị bỏ, theo quy tắc của đức công bình, của đức bác ái Kitô giáo và của sự hợp tình hợp lý tự nhiên.

Canon 1148

§1 When an unbaptised man who simultaneously has a number of unbaptised wives, has received baptism in the Catholic Church, if it would be a hardship for him to remain with the first of the wives, he may retain one of them, having dismissed the others. The same applies to an unbaptised woman who simultaneously has a number of unbaptised husbands.
§2 In the cases mentioned in
§1, when baptism has been received, the marriage is to be contracted in the legal form, with due observance, if need be, of the provisions concerning mixed marriages and of other provisions of law.
§3 In the light of the moral, social and economic circumstances of place and person, the local Ordinary is to ensure that adequate provision is made, in accordance with the norms of justice, Christian charity and natural equity, for the needs of the first wife and of the others who have been dismissed.

Điều 1149

Một người chưa được Rửa Tội, sau khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo, do bị tù đày hay bị bách hại, nên không thể tái lập đời sống chung với người phối ngẫu không chịu phép Rửa Tội, thì có thể tái hôn, dù trong thời gian đó người phối ngẫu ấy đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1141.

Canon 1149

An unbaptised person who, having received baptism in the Catholic Church, cannot re-establish cohabitation with his or her unbaptised spouse by reason of captivity or persecution, can contract another marriage, even if the other party has in the meantime received baptism, without prejudice to the provisions of can. 1141.

Điều 1150

Trong trường hợp hồ nghi, đặc ân đức tin được luật ưu đãi.

Canon 1150

In a doubtful matter the privilege of the faith enjoys the favour of law.

Điều 1151

Những người phối ngẫu có bổn phận và có quyền bảo vệ đời sống chung vợ chồng, trừ khi được miễn vì một lý do hợp pháp.

Canon 1151

Spouses have the obligation and the right to maintain their common conjugal life, unless a lawful reason excuses them.

Điều 1152

§1. Mặc dầu thiết tha khuyên nhủ người phối ngẫu vì đức bác ái Kitô giáo và vì ích lợi của gia đình, đừng từ chối tha thứ cho bên ngoại tình và đừng cắt đứt đời sống chung vợ chồng, tuy nhiên, nếu họ đã không minh nhiên hay mặc nhiên tha thứ lỗi lầm cho bên kia, thì họ có quyền cắt đứt đời sống vợ chồng, trừ khi họ đã chấp nhận việc ngoại tình, hoặc họ đã gây ra nguyên nhân của tội ngoại tình, hoặc họ cũng đã phạm tội ngoại tình.
§2. Có sự tha thứ mặc nhiên, nếu sau khi biết có tội ngoại tình, người phối ngẫu vô tội vẫn tự nguyện sống chung đời vợ chồng với người phối ngẫu kia; nhưng sự tha thứ này được suy đoán, nếu người phối ngẫu vô tội vẫn sống chung vợ chồng trong sáu tháng và không nại đến nhà chức trách Giáo Hội hay chính quyền nhân sự.
§3. Nếu người phồi ngẫu vô tội tự ý cắt đứt đời sống chung vợ chồng, thì trong vòng sáu tháng phải đưa vụ án ly thân ra trước nhà chức trách Giáo Hội; sau khi đã xem xét tất cả mọi hoàn cảnh, nhà chức trách Giáo Hội phải thẩm định xem có thể làm cho người phối ngẫu vô tội tha thứ lỗi lầm và không kéo dài mãi cảnh ly thân hay không.

Canon 1152

§1 It is earnestly recommended that a spouse, motivated by Christian charity and solicitous for the good of the family, should not refuse to pardon an adulterous partner and should not sunder the conjugal life. Nevertheless, if that spouse has not either expressly or tacitly condoned the other’s fault, he or she has the right to sever the common conjugal life, provided he or she has not consented to the adultery, nor been the cause of it, nor also committed adultery.
§2 Tacit condonation occurs if the innocent spouse, after becoming aware of the adultery, has willingly engaged in a marital relationship with the other spouse; it is presumed, however, if the innocent spouse has maintained the common conjugal life for six months, and has not had recourse to ecclesiastical or to civil authority.
§3 Within six months of having spontaneously terminated the common conjugal life, the innocent spouse is to bring a case for separation to the competent ecclesiastical authority. Having examined all the circumstances, this authority is to consider whether the innocent spouse can be brought to condone the fault and not prolong the separation permanently.

Điều 1153

§1. Nếu một trong hai người phối ngẫu gây nguy hiểm nghiêm trọng về tinh thần hay thể xác cho bên kia hoặc cho con cái, hay nếu bằng cách nào khác làm cho đời sống chung trở nên nặng nề, thì bên nọ tạo cho bên kia một lý do hợp pháp để ly thân, hoặc là do một sắc lệnh của Đấng Bản Quyền địa phương, hoặc là do quyền riêng của mình, nếu có nguy cơ phải chờ đợi.
§2. Trong tất cả mọi trường hợp, khi hết lý do ly thân thì phải lập lại cuộc sống chung vợ chồng, trừ khi nhà chức trách Giáo Hội đã ấn định cách khác.

Canon 1153

§1 A spouse who occasions grave danger of soul or body to the other or to the children, or otherwise makes the common life unduly difficult, provides the other spouse with a reason to leave, either by a decree of the local Ordinary or, if there is danger in delay, even on his or her own authority.
§2 In all cases, when the reason for separation ceases, the common conjugal life is to be restored, unless otherwise provided by ecclesiastical authority.

Điều 1154

Một khi đã ly thân, những người phối ngẫu luôn luôn phải lo liệu cách thích hợp về việc chu cấp và giáo dục buộc phải có đối với con cái.

Canon 1154

When a separation of spouses has taken place, provision is always, and in good time, to be made for the due maintenance and upbringing of the children.

Điều 1155

Người phối ngẫu vô tội vẫn có thể chấp nhận cho người phối ngẫu kia trở về cuộc sống chung vợ chồng, và đó là điều đáng khen; trong trường hợp này, đương sự khước từ quyền ly thân.

Canon 1155

The innocent spouse may laudably readmit the other spouse to the conjugal life, in which case he or she renounces the right to separation.

Điều 1156

§1. Để thành sự hóa một hôn nhân bất thành do một ngăn trở tiêu hôn, thì buộc ngăn trở phải chấm dứt hoặc được miễn chuẩn, và ít là bên biết có ngăn trở phải lặp lại sự ưng thuận.
§2. Luật Giáo Hội buộc phải lặp lại sự ưng thuận ấy để việc thành sự hóa có hiệu lực, mặc dầu lúc đầu cả hai bên đã biểu lộ sự ưng thuận và sau đó đã không rút lại sự ưng thuận.

Canon 1156

§1 To validate a marriage which is invalid because of a diriment impediment, it is required that the impediment cease or be dispensed, and that at least the party aware of the impediment renews consent.
§2 This renewal is required by ecclesiastical law for the validity of the validation, even if at the beginning both parties had given consent and had not afterwards withdrawn it.

Điều 1157

Việc lặp lại sự ưng thuận, phải là một hành vi mới của ý muốn kết hôn, mà bên lặp lại sự ưng thuận ấy biết hoặc quan niệm rằng hôn nhân đã bất thành ngay từ đầu.

Canon 1157

The renewal of consent must be a new act of will consenting to a marriage which the renewing party knows or thinks was invalid from the beginning.

Điều 1158

§1. Nếu ngăn trở là công khai, cả hai bên đều phải lặp lại sự ưng thuận theo thể thức giáo luật, miễn là vẫn giữ giữ nguyên những quy định của điều 1127
§2.

Canon 1158

§1 If the impediment is public, consent is to be renewed by both parties in the canonical form, without prejudice to the provision of can. 1127
§3.
§2 If the impediment cannot be proved, it is sufficient that consent be renewed privately and in secret, specifically by the party who is aware of the impediment provided the other party persists in the consent given, or by both parties if the impediment is known to both.

Điều 1159

§1. Hôn nhân bất thành do thiếu sự ưng thuận sẽ được thành sự hóa, nếu bên trước kia đã không ưng thuận bây giờ lại ưng thuận, miễn là bên kia vẫn còn duy trì sự ưng thuận đã được biểu lộ.
§2. Nếu không thể chứng minh được là thiếu sự ưng thuận, thì chỉ cần bên trước kia đã không ưng thuận bày tỏ sự ưng thuận cách riêng tư và kín đáo.
§3. Nếu có thể chứng minh được là thiếu sự ưng thuận, thì cần phải biểu lộ sự ưng thuận theo thể thức giáo luật.

Canon 1159

§1 A marriage invalid because of a defect of consent is validated if the party who did not consent, now does consent, provided the consent given by the other party persists.
§2 If the defect of the consent cannot be proven, it is sufficient that the party who did not consent, gives consent privately and in secret.
§3 If the defect of consent can be proven, it is necessary that consent be given in the canonical form.

Điều 1160

Để được thành sự hóa, hôn nhân bất thành do thiếu thể thức phải được kết ước lại theo thể thức giáo luật, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1127
§2.

Canon 1160

For a marriage which is invalid because of defect of form to become valid, it must be contracted anew in the canonical form, without prejudice to the provisions of can. 1127
§2.

Điều 1161

§1. Điều trị tại căn một hôn nhân bất thành là việc thành sự hóa hôn nhân ấy mà không buộc phải lập lại sự ưng thuận, do nhà chức trách có thẩm quyền ban, bao hàm việc miễn chuẩn một ngăn trở, nếu có, và thể thức giáo luật, nếu đã không được tuân giữ, cũng như sự hồi tố của những hiệu quả giáo luật.
§2. Việc điều trị tại căn được thực hiện từ lúc ban ân huệ; nhưng việc hồi tố được hiểu là có hiệu lực từ lúc hôn nhân được cử hành, trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác.
§3. Không được ban việc điều trị tại căn, nếu không biết chắc là đôi bên muốn duy trì đời sống vợ chồng.

Canon 1161

§1 The retroactive validation of an invalid marriage is its validation without the renewal of consent, granted by the competent authority. It involves a dispensation from an impediment if there is one and from the canonical form if it had not been observed, as well as a referral back to the past of the canonical effects.
§2 The validation takes place from the moment the favour is granted; the referral back, however, is understood to have been made to the moment the marriage was celebrated, unless it is otherwise expressly provided.
§3 A retroactive validation is not to be granted unless it is probable that the parties intend to persevere in conjugal life. [See the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 18615/2025, 17.VII.2025, which clarifies that a sanatio in radice can be granted after careful discernment without presuming invalidity simply because the marriage was civil, provided the original consent persists and the conditions for validity are met. The diocesan bishop may grant this favour for marriages invalid on account of lack of canonical form, assessing freedom from impediments and ongoing consent on a case-by-case basis]

Điều 1162

§1. Hôn nhân không thể được điều trị tại căn, nếu thiếu sự ưng thuận của cả hai bên hay của cả hai bên hay của một trong hai bên, hoặc là thiếu sự ưng thuận ngay từ đầu, hoặc là lúc đầu thì ưng thuận nhưng về sau đã rút lại.
§2. Tuy nhiên, nếu lúc đầu thiếu sự ưng thuận, nhưng về sau sự ưng thuận đã được biểu lộ, thì có thể ban việc điều trị tại căn từ lúc biểu lộ sự ưng thuận.

Canon 1162

§1 If consent is lacking in either or both of the parties, a marriage cannot be rectified by a retroactive validation, whether consent was absent from the beginning or, though given at the beginning, was subsequently revoked.
§2 If the consent was indeed absent from the beginning but was subsequently given, a retroactive validation can be granted from the moment the consent was given.

Điều 1163

§1. Hôn nhân bất thành do mắc ngăn trở hay do thiếu thể thức hợp thức có thể được điều trị tại căn, miễn là đôi bên vẫn còn duy trì sự ưng thuận.
§2. Hôn nhân bất thành do mắc ngăn trở thuộc luật tự nhiên hoặc thuộc luật thiết định của Thiên Chúa chỉ có thể được điều trị tại căn sau khi đã hết ngăn trở.

Canon 1163

§1 A marriage which is invalid because of an impediment or because of defect of the legal form, can be validated retroactively, provided the consent of both parties persists.
§2 A marriage which is invalid because of an impediment of the natural law or of the divine positive law, can be validated retroactively only after the impediment has ceased.

Điều 1164

Việc điều trị tại căn có thể được ban thành sự ngay cả khi hai bên hoặc một bên không biết, nhưng chỉ được ban vì một lý do nghiêm trọng.

Canon 1164

A retroactive validation may validly be granted even if one or both of the parties is unaware of it; it is not, however, to be granted except for a grave reason.

Điều 1165

§1. Tông Tòa có thể ban việc điều trị tại căn.
§2. Giám Mục giáo phận có thể ban việc điều trị tại căn trong từng trường hợp, ngay cả khi có nhiều lý do bất thành trong cùng một hôn nhân, khi đã hội đủ các điều kiện được nói đến ở điều 1125 đối với việc điều trị tại căn của hôn nhân hỗn hợp; nhưng Giám Mục giáo phận không thể ban việc điều trị tại căn, nếu có một ngăn trở mà Tông Tòa dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn chiếu theo quy tắc của điều 1078
§2, hoặc nếu có một ngăn trở thuộc luật tự nhiên hoặc thuộc luật thiết định của Thiên Chúa, mặc dầu ngăn trở ấy đã chấn dứt.

Canon 1165

§1 Retroactive validation can be granted by the Apostolic See.
§2 It can be granted by the diocesan Bishop in individual cases, even if a number of reasons for nullity occur together in the same marriage, assuming that for a retroactive validation of a mixed marriage the conditions of can. 1125 will have been fulfilled. It cannot, however, be granted by him if there is an impediment whose dispensation is reserved to the Apostolic See in accordance with can. 1078
§2, or if there is question of an impediment of the natural law or of the divine positive law which has now ceased. [On the question of retroactive validation of a mixed marriage, see the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 15814/2017, 24.IV.2017] [On the question of retroactive validation of a marriage between a Catholic and a non-baptised person, see the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 15891/2017, 22.V.2017] [On the question of retroactive validation of a marriage between two Catholics which lacks canonical form, see the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 16601/2019, 18.III.2019, and the Response of the Dicastery for Legislative Texts to a particular question, Prot. 18121/2023, 17.XI.2023]

×

Mục Lục Giáo Luật

×

Nhảy đến Điều

Danh sách các Điều có trong mục này:

Điều 840 Điều 841 Điều 842 Điều 843 Điều 844 Điều 845 Điều 846 Điều 847 Điều 848 Điều 849 Điều 850 Điều 851 Điều 852 Điều 853 Điều 854 Điều 855 Điều 856 Điều 857 Điều 858 Điều 859 Điều 860 Điều 861 Điều 862 Điều 863 Điều 864 Điều 865 Điều 866 Điều 867 Điều 868 Điều 869 Điều 870 Điều 871 Điều 872 Điều 873 Điều 874 Điều 875 Điều 876 Điều 877 Điều 878 Điều 879 Điều 880 Điều 881 Điều 882 Điều 883 Điều 884 Điều 885 Điều 886 Điều 887 Điều 888 Điều 889 Điều 890 Điều 891 Điều 892 Điều 893 Điều 894 Điều 895 Điều 896 Điều 897 Điều 898 Điều 899 Điều 900 Điều 901 Điều 902 Điều 903 Điều 904 Điều 905 Điều 906 Điều 907 Điều 908 Điều 909 Điều 910 Điều 911 Điều 912 Điều 913 Điều 914 Điều 915 Điều 916 Điều 917 Điều 918 Điều 919 Điều 920 Điều 921 Điều 922 Điều 923 Điều 924 Điều 925 Điều 926 Điều 927 Điều 928 Điều 929 Điều 930 Điều 931 Điều 932 Điều 933 Điều 934 Điều 935 Điều 936 Điều 937 Điều 938 Điều 939 Điều 940 Điều 941 Điều 942 Điều 943 Điều 944 Điều 945 Điều 946 Điều 947 Điều 948 Điều 949 Điều 950 Điều 951 Điều 952 Điều 953 Điều 954 Điều 955 Điều 956 Điều 957 Điều 958 Điều 959 Điều 960 Điều 961 Điều 962 Điều 963 Điều 964 Điều 965 Điều 966 Điều 967 Điều 968 Điều 969 Điều 970 Điều 971 Điều 972 Điều 973 Điều 974 Điều 975 Điều 976 Điều 977 Điều 978 Điều 979 Điều 980 Điều 981 Điều 982 Điều 983 Điều 984 Điều 985 Điều 986 Điều 987 Điều 988 Điều 989 Điều 990 Điều 991 Điều 992 Điều 993 Điều 994 Điều 995 Điều 996 Điều 997 Điều 998 Điều 999 Điều 1000 Điều 1001 Điều 1002 Điều 1003 Điều 1004 Điều 1005 Điều 1006 Điều 1007 Điều 1008 Điều 1009 Điều 1010 Điều 1011 Điều 1012 Điều 1013 Điều 1014 Điều 1015 Điều 1016 Điều 1017 Điều 1018 Điều 1019 Điều 1020 Điều 1021 Điều 1022 Điều 1023 Điều 1024 Điều 1025 Điều 1026 Điều 1027 Điều 1028 Điều 1029 Điều 1030 Điều 1031 Điều 1032 Điều 1033 Điều 1034 Điều 1035 Điều 1036 Điều 1037 Điều 1038 Điều 1039 Điều 1040 Điều 1041 Điều 1042 Điều 1043 Điều 1044 Điều 1045 Điều 1046 Điều 1047 Điều 1048 Điều 1049 Điều 1050 Điều 1051 Điều 1052 Điều 1053 Điều 1054 Điều 1055 Điều 1056 Điều 1057 Điều 1058 Điều 1059 Điều 1060 Điều 1061 Điều 1062 Điều 1063 Điều 1064 Điều 1065 Điều 1066 Điều 1067 Điều 1068 Điều 1069 Điều 1070 Điều 1071 Điều 1072 Điều 1073 Điều 1074 Điều 1075 Điều 1076 Điều 1077 Điều 1078 Điều 1079 Điều 1080 Điều 1081 Điều 1082 Điều 1083 Điều 1084 Điều 1085 Điều 1086 Điều 1087 Điều 1088 Điều 1089 Điều 1090 Điều 1091 Điều 1092 Điều 1093 Điều 1094 Điều 1095 Điều 1096 Điều 1097 Điều 1098 Điều 1099 Điều 1100 Điều 1101 Điều 1102 Điều 1103 Điều 1104 Điều 1105 Điều 1106 Điều 1107 Điều 1108 Điều 1109 Điều 1110 Điều 1111 Điều 1112 Điều 1113 Điều 1114 Điều 1115 Điều 1116 Điều 1117 Điều 1118 Điều 1119 Điều 1120 Điều 1121 Điều 1122 Điều 1123 Điều 1124 Điều 1125 Điều 1126 Điều 1127 Điều 1128 Điều 1129 Điều 1130 Điều 1131 Điều 1132 Điều 1133 Điều 1134 Điều 1135 Điều 1136 Điều 1137 Điều 1138 Điều 1139 Điều 1140 Điều 1141 Điều 1142 Điều 1143 Điều 1144 Điều 1145 Điều 1146 Điều 1147 Điều 1148 Điều 1149 Điều 1150 Điều 1151 Điều 1152 Điều 1153 Điều 1154 Điều 1155 Điều 1156 Điều 1157 Điều 1158 Điều 1159 Điều 1160 Điều 1161 Điều 1162 Điều 1163 Điều 1164 Điều 1165
Vericath App

Cài đặt Vericath

Truy cập nhanh chóng và trải nghiệm mượt mà hơn trên màn hình chính của bạn.

Home