Điều 1205
Nơi thánh là những nơi đã được cung hiến hay được làm phép theo quy định của các sách phụng vụ, để dùng vào việc thờ phượng Thiên Chúa hay để mai táng các tín hữu.
Canon 1205
Sacred places are those which are assigned to divine worship or to the burial of the faithful by the dedication or blessing which the liturgical books prescribe for this purpose.
Điều 1206
Việc cung hiến một nơi nào đó thuộc về Giám Mục giáo phận và những vị được luật coi là tương đương với Giám Mục; các vị này có thể ủy quyền cho bất cứ Giám Mục nào, hay cho một linh mục nào đó trong những trường hợp ngoại lệ, để thực hiện nghi thức cung hiến trong địa hạt riêng của mình.
Canon 1206
The dedication of a place belongs to the diocesan Bishop and to those equivalent to him in law. For a dedication in their own territory they can depute any Bishop or, in exceptional cases, a priest.
Điều 1207
Đấng Bản Quyền làm phép các nơi thánh, nhưng việc làm phép các nhà thờ thì được dành riêng cho Giám Mục giáo phận; cả hai vị đều có quyền cho một tư tế khác để làm việc ấy.
Canon 1207
Sacred places are blessed by the Ordinary, but the blessing of churches is reserved to the diocesan Bishop. Both may, however, delegate another priest for the purpose.
Điều 1208
Sau khi đã cung hiến hay phép nhà thờ, cũng như sau khi đã làm phép nghĩa địa, phải soạn thảo một chứng thư về việc ấy, một bản được lưu giữ tại tòa giám mục và một bản khác tại văn khố của nhà thờ.
Canon 1208
A document is to be drawn up to record the dedication or blessing of a church, or the blessing of a cemetery. One copy is to be kept in the diocesan curia, the other in the archive of the church.
Điều 1209
Việc cung hiến hay làm phép một nơi nào đó chỉ cần có một nhân chứng đáng tin làm chứng là đủ, miễn là việc làm chứng này không làm thiệt hại ai.
Canon 1209
The dedication or the blessing of a place is sufficiently established even by a single unexceptionable witness, provided no one is harmed thereby.
Điều 1210
Trong một nơi thánh chỉ được phép làm những việc giúp thi hành hay thăng tiến việc thờ phượng, lòng đạo đức và tôn giáo, và cấm làm bất cứ điều gì không xứng hợp với sự thánh thiện của nơi thánh. Tuy nhiên, Đấng Bản Quyền có thể cho phép sử dụng từng lần vào các việc khác, miễn là không nghịch với sự thánh thiện của nơi thánh.
Canon 1210
In a sacred place only those things are to be permitted which serve to exercise or promote worship, piety and religion. Anything out of harmony with the holiness of the place is forbidden. The Ordinary may however, for individual cases, permit other uses, provided they are not contrary to the sacred character of the place. [See Congregation for Divine Worship, Letter 5.XI.1987, on concerts in churches]
Điều 1211
Những nơi thánh bị xúc phạm do những hành vi vì bất xứng nghiêm trọng đã phạm tại đó và đã gây gương xấu cho các tín hữu, theo sự phán đoán của Đấng Bản Quyền địa phương những hành vi ấy có tính cách nghiêm trọng và nghịch với sự thánh thiện của nơi thánh, đến nỗi không được phép cử hành việc thờ phượng tại đó nữa, cho đến khi đền bù lại sự bất xứng đó bằng nghi thức sám hối chiếu theo quy tắc của các sách phụng vụ.
Canon 1211
Sacred places are desecrated by acts done in them which are gravely injurious and give scandal to the faithful when, in the judgement of the local Ordinary, these acts are so serious and so contrary to the sacred character of the place that worship may not be held there until the harm is repaired by means of the penitential rite which is prescribed in the liturgical books.
Điều 1212
Những nơi thánh mất tính cách đã được cung hiến hay đã được làm phép, nếu phần lớn đã bị phá hủy, hoặc được sử dụng vào những việc phàm tục một cách thường xuyên, hoặc do sắc lệnh của Đấng Bản Quyền có thẩm quyền, hoặc do thực tế.
Canon 1212
Sacred places lose their dedication or blessing if they have been in great measure destroyed, or if they have been permanently made over to secular usage, whether by decree of the competent Ordinary or simply in fact.
Điều 1213
Nhà chức trách Giáo Hội được tự do thi hành các quyền và các nhiệm vụ của mình trong các nơi thánh.
Canon 1213
Ecclesiastical authority freely exercises its powers and functions in sacred places.
Điều 1214
Được hiểu là một tòa nhà thánh dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, nhà thờ là nơi các tín hữu có quyền vào để thi hành việc thờ phượng Thiên Chúa, nhất là việc thờ phượng công.
Canon 1214
The term church means a sacred building intended for divine worship, to which the faithful have right of access for the exercise, especially the public exercise, of divine worship.
Điều 1215
§1. Không được xây dựng nhà thờ, nếu không có sự chấp nhận minh nhiên bằng văn bản của Giám Mục giáo phận.
§2. Giám Mục giáo phận chỉ nên chấp thuận, nếu sau khi đã tham khảo ý kiến của hội đồng linh mục và các vị quản nhiệm nhà thờ lân cận, ngài xét thấy là nhà thờ có thể đem lại lợi ích cho các linh hồn, và sẽ không thiếu những phương tiện cần thiết để xây dựng nhà thờ cũng như để thi hành việc thờ phượng Thiên Chúa.
§3. Dù đã được Giám Mục giáo phận chấp thuận cho phép thiết lập nhà mới trong giáo phận hay trong thành phố của ngài, các hội dòng cũng phải cũng có phép của ngài trước khi xây dựng nhà thờ ở một nơi đích xác và nhất định.
Canon 1215
§1 No church is to be built without the express and written consent of the diocesan Bishop.
§2 The diocesan Bishop is not to give his consent until he has consulted the council of priests and the rectors of neighbouring churches, and then decides that the new church can serve the good of souls and that the necessary means will be available to build the church and to provide for divine worship.
§3 Even though they have received the diocesan Bishop’s consent to establish a new house in a diocese or city, religious institutes must obtain the same Bishop’s permission before they may build a church in a specific and determined place.
Điều 1216
Khi xây dựng và sửa chữa nhà thờ, ngoài việc hỏi ý các chuyên viên, phải giữ những nguyên tắc và quy tắc phụng vụ và nghệ thuật thánh.
Canon 1216
In the building and restoration of churches the advice of experts is to be used, and the principles and norms of liturgy and of sacred art are to be observed.
Điều 1217
§1. Một khi đã được xây dựng xong, nhà thờ mới phải được cung hiến sớm hết sức, hoặc ít là phải được làm phép, theo luật phụng vụ thánh.
§2. Các nhà thờ, nhất là nhà thờ chính tòa và nhà thờ giáo xứ, phải được cung hiến cách trọng thể.
Canon 1217
§1 As soon as possible after completion of the building the new church is to be dedicated or at least blessed, following the laws of the sacred liturgy.
§2 Churches, especially cathedrals and parish churches, are to be dedicated by a solemn rite.
Điều 1218
Mỗi nhà thờ phải có một tước hiệu riêng và một khi đã được cung hiến thì không được thay đổi tước hiệu này nữa.
Canon 1218
Each church is to have its own title. Once the church has been dedicated this title cannot be changed.
Điều 1219
Trong một nhà thờ đã được cung hiến hay đã được làm phép một cách hợp pháp, thì có thể cử hành tất cả mọi hành vi thờ phượng Thiên Chúa, miễn là vẫn tôn trọng các quyền lợi của giáo xứ.
Canon 1219
All acts of divine worship may be carried out in a church which has been lawfully dedicated or blessed, without prejudice to parochial rights.
Điều 1220
§1. Việc chăm lo gìn giữ các nhà thờ được sạch sẽ và mỹ quan, xứng đáng là nhà Thiên Chúa, và loại bỏ những gì không thích hợp với sự thánh thiện của nhà thờ thuộc về tất cả những người có trách nhiệm coi sóc nhà thờ.
§2. Để gìn giữ những đồ thánh quý giá, phải thường xuyên quan tâm đến việc bảo quản và phải sử dụng những phương tiện an toàn thích hợp.
Canon 1220
§1 Those responsible are to ensure that there is in churches such cleanliness and ornamentation as befits the house of God, and that anything which is discordant with the sacred character of the place is excluded.
§2 Ordinary concern for preservation and appropriate means of security are to be employed to safeguard sacred and precious goods.
Điều 1221
Phải được tự do và được miễn phí vào nhà thờ trong lúc cử hành các nghi lễ thánh.
Canon 1221
Entry to a church at the hours of sacred functions is to be open and free of charge.
Điều 1222
§1. Nếu một nhà thờ không thể được sử dụng vào việc thờ phượng Thiên Chúa bằng bất cứ cách nào và cũng không thể tu bổ được nữa, Giám Mục giáo phận có thể sử dụng nhà thờ đó vào việc phàm tục tương hợp.
§2. Nơi nào có những lý do nghiêm trọng khác khuyên không nên sử dụng một nhà thờ nào đó, vào việc thờ phượng Thiên Chúa nữa, thì Giám Mục giáo phận sau khi đã tham khảo ý kiến của hội đồng linh mục, có thể cho sử dụng nhà thờ ấy vào một việc phàm tục tương hợp, với sự đồng ý của những người yêu sách quyền lợi của họ trên nhà thờ ấy cách hợp lệ, và miễn là không làm thiệt hại đến lợi ích của các linh hồn.
Canon 1222
§1 If a church cannot in any way be used for divine worship and there is no possibility of its being restored, the diocesan Bishop may allow it to be used for some secular but not unbecoming purpose.
§2 Where other grave reasons suggest that a particular church should no longer be used for divine worship, the diocesan Bishop may allow it to be used for a secular but not unbecoming purpose. Before doing so, he must consult the council of priests; he must also have the consent of those who could lawfully claim rights over that church, and be sure that the good of souls would not be harmed by the transfer.
Điều 1223
Nhà nguyện được hiểu là một nơi được Đấng Bản Quyền ban phép dành vào việc thờ phượng Thiên Chúa, vì lợi ích của một cộng đoàn hay của một nhóm tín hữu quy tụ tại đó, các tín hữu khác cũng có thể vào nhà nguyện ấy với sự chấp thuận của Bề Trên có thẩm quyền.
Canon 1223
An oratory means a place which, by permission of the Ordinary, is set aside for divine worship, for the convenience of some community or group of the faithful who assemble there, to which however other members of the faithful may, with the consent of the competent Superior, have access.
Điều 1224
§1. Đấng Bản Quyền chỉ nên ban phép cần thiết để thiết lập một nhà nguyện, sau khi đã đích thân hay nhờ một người khác đến tham quan nơi dành làm nhà nguyện và đã thấy nơi ấy được bố trí thích hợp.
§2. Một khi đã được phép rồi, nhà nguyện không thể được sử dụng vào việc phàm tục, nếu không có phép của chính Đấng Bản Quyền ấy.
Canon 1224
§1 The Ordinary is not to give the permission required for setting up an oratory unless he has first, personally or through another, inspected the place destined for the oratory and found it to be becomingly arranged.
§2 Once this permission has been given, the oratory cannot be converted to a secular usage without the authority of the same Ordinary.
Điều 1225
Trong các nhà nguyện đã được thiết lập cách hợp pháp, có thể cử hành tất cả mọi nghi lễ thánh, trừ những nghi lễ mà luật hoặc các quy định của Đấng Bản Quyền địa phương đã loại bỏ, hoặc nghịch với những quy tắc phụng vụ.
Canon 1225
All sacred services may be celebrated in a lawfully constituted oratory, apart from those which are excluded by the law, by a provision of the local Ordinary, or by liturgical laws.
Điều 1226
Nhà nguyện tư được hiểu là một nơi đã được Đấng Bản Quyền địa phương ban phép dành cho việc thờ phượng Thiên Chúa, vì lợi ích của một hay nhiều thể nhân.
Canon 1226
The term private chapel means a place which, by permission of the local Ordinary, is set aside for divine worship, for the convenience of one or more individuals.
Điều 1227
Các Giám Mục có thể thiết lập cho mình một nhà nguyện tư, nhà nguyện tư này có cùng những quyền lợi của một nhà nguyện.
Canon 1227
Bishops can set up for their own use a private chapel which enjoys the same rights as an oratory.
Điều 1228
Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1227, để cử hành Thánh Lễ và các nghi lễ thánh trong một nhà nguyện tư nào đó, thì buộc phải có phép của Đấng Bản Quyền địa phương.
Canon 1228
Without prejudice to the provision of can. 1227, the permission of the local Ordinary is required for the celebration of Mass and of other sacred functions in any private chapel.
Điều 1229
Nên làm phép nhà nguyện và nhà nguyện tư theo nghi lễ được quy định trong các sách phụng vụ, nhưng các nhà nguyện này phải được dành riêng vào việc thờ phượng Thiên Chúa mà thôi, và không được sử dụng vào bất cứ việc gì trong nhà.
Canon 1229
It is appropriate that oratories and private chapels be blessed according to the rite prescribed in the liturgical books. They must, however, be reserved for divine worship only and be freed from all domestic use.
Điều 1230
Đền thánh được hiểu là một nhà thờ hay một nơi thánh nào khác, mà nhiều tín hữu đi hành hương tới đó vì lòng đạo đức đặc biệt, với sự chấp thuận của Đấng Bản Quyền địa phương.
Canon 1230
The term shrine means a church or other sacred place which, with the approval of the local Ordinary, is by reason of special devotion frequented by the faithful as pilgrims.
Điều 1231
Để một đền thánh có thể được gọi là đền thánh quốc gia, thì phải được Hội Đồng Giám Mục phê chuẩn; để có thể được gọi là đền thánh quốc tế, thì buộc phải có sự phê chuẩn của Tòa Thánh.
Canon 1231
For a shrine to be described as national, the approval of the Episcopal Conference is necessary. For it to be described as international, the approval of the Holy See is required.
Điều 1232
§1. Đấng Bản Quyền địa phương có thẩm quyền phê chuẩn các quy chế đền thánh giáo phận; Hội Đồng Giám Mục có thẩm quyền phê chuẩn các quy chế đền thánh quốc gia và chỉ một mình Tòa Thánh mới có thẩm quyền phê chuẩn các quy chế đền thánh quốc tế.
§2. Các quy chế phải đặc biệt xác định mục đích, quyền bính của cha quản nhiệm, quyền sở hữu và việc quản trị tài sản.
Canon 1232
§1 The local Ordinary is competent to approve the statutes of a diocesan shrine; the Episcopal Conference, those of a national shrine; the Holy See alone, those of an international shrine.
§2 The statutes of a shrine are to determine principally its purpose, the authority of the rector, and the ownership and administration of its property.
Điều 1233
Có thể ban cho các đền thánh một số đặc ân mỗi khi thấy hoàn cảnh địa phương, số người hành hương đông đảo và nhất là lợi ích của các tín hữu đòi hỏi điều đó.
Canon 1233
Certain privileges may be granted to shrines when the local circumstances, the number of pilgrims and especially the good of the faithful would seem to make this advisable.
Điều 1234
§1. Tại các đền thánh, phải cung cấp các phương tiện cứu độ cho các tín hữu một cách dồi dào, bằng cách nhiệt thành rao giảng Lời Chúa, cổ vũ cách thích hợp đời sống phụng vụ, đặc biệt là qua việc cử hành bí tích Thánh Thể và bí tích Sám Hối, cũng như bằng cách duy trì việc thực hành lòng sùng đạo bình dân đã được chuẩn nhận.
§2. Những kỷ vật dâng cúng có giá trị nghệ thuật bình dân và đạo đức được trưng bày trong các đền thánh hoặc trong các nơi kề cận phải được bảo tồn và gìn giữ an toàn.
Canon 1234
§1 At shrines the means of salvation are to be more abundantly made available to the faithful: by sedulous proclamation of the word of God, by suitable encouragement of liturgical life, especially by the celebration of the Eucharist and penance, and by the fostering of approved forms of popular devotion.
§2 In shrines or in places adjacent to them, votive offerings of popular art and devotion are to be displayed and carefully safeguarded.
Điều 1235
§1. Bàn thờ, tức là chiếc bàn mà Hiến Tế Thánh Thể được cử hành trên đó, được coi là cố định, nếu được xây gắn liền với nền nhà, đến nỗi không thể di chuyển được; được coi là di động, nếu có thể di chuyển được.
§2. Trong tất cả mọi nhà thờ, nên có một bàn thờ cố định; nhưng trong các nơi khác dành cho việc cử hành các nghi lễ thánh, bàn thờ có thể cố định hay di động.
Canon 1235
§1 The altar or table on which the eucharistic Sacrifice is celebrated is termed fixed if it is so constructed that it is attached to the floor and therefore cannot be moved; it is termed movable, if it can be removed.
§2 It is proper that in every church there should be a fixed altar. In other places which are intended for the celebration of sacred functions, the altar may be either fixed or movable.
Điều 1236
§1. Theo truyền thống thực tiễn của Giáo Hội, mặt bàn thờ cố định phải bằng đá, và còn phải bằng nguyên một phiến đá tự nhiên; tuy nhiên, cũng có thể chấp nhận cho dùng một vật liệu khác xứng đáng và rắn chắc, theo sự thẩm định của Hội Đồng Giám Mục. Còn phần chống đỡ hay chân bàn thờ có thể được làm bằng bất cứ vật liệu nào.
§2. Bàn thờ di động có thể được làm bất cứ vật liệu rắn chắc nào hợp với việc sử dụng trong phụng vụ.
Canon 1236
§1 In accordance with the traditional practice of the Church, the table of a fixed altar is to be of stone, indeed of a single natural stone. However, even some other worthy and solid material may be used, if the Episcopal Conference so judges. The support or the base can be made from any material.
§2 A movable altar can be made of any solid material which is suitable for liturgical use.
Điều 1237
§1. Các bàn thờ cố định phải được cung hiến, còn bàn thờ di động phải được cung hiến hoặc được làm phép theo nghi thức đã được quy định trong các sách phụng vụ.
§2. Phải giữ gìn truyền thống cổ kính đặt các thánh tích của các thánh tử đạo hay các thánh khác dưới bàn thờ cố định, theo các quy tắc được quy định trong các sách phụng vụ.
Canon 1237
§1 Fixed altars are to be dedicated, movable ones either dedicated or blessed, according to the rites prescribed in the liturgical books.
§2 The ancient tradition of placing relics of Martyrs or of other Saints within a fixed altar is to be retained, in accordance with the rites prescribed in the liturgical books.
Điều 1238
§1. Một bàn thờ mất tính cách đã được cung hiến hay đã được làm phép chiếu theo quy tắc của điều 1212.
§2. Do sự kiện cho sử dụng nhà thờ hay một nơi thánh khác vào việc phàm tục, các bàn thờ cố định hay di động không mất tính cách đã được cung hiến, và cũng không mất tính cách đã được làm phép.
Canon 1238
§1 An altar loses its dedication or blessing in accordance with can. 1212.
§2 Altars, whether fixed or movable, do not lose their dedication or blessing as a result of a church or other sacred place being made over to secular usage.
Điều 1239
§1. Cả bàn thờ cố định lẫn bàn thờ di động chỉ được dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, tuyệt đối không được sử dụng vào bất cứ việc phàm tục nào.
§2. Không được chôn cất thi hài dưới bàn thờ; nếu có thì không được phép cử hành Thánh Lễ trên bàn thờ ấy.
Canon 1239
§1 An altar, whether fixed or movable, is to be reserved for divine worship alone, to the exclusion of any secular usage.
§2 No corpse is to be buried beneath an altar; otherwise, it is not lawful to celebrate Mass at that altar.
Điều 1240
§1. Phải có những nghĩa trang riêng của Giáo Hội ở nào có thể, hay ít ra phải có những khu vực dành riêng cho các tín hữu đã qua đời trong những trang dân sự, và những khu vực này phải được làm phép đúng nghi thức.
§2. Nếu không thể có các nghĩa trang riêng, thì phải làm phép các phần mộ từng lần một đúng nghi thức.
Canon 1240
§1 Where possible, the Church is to have its own cemeteries, or at least an area in public cemeteries which is duly blessed and reserved for the deceased faithful.
§2 If, however, this is not possible, then individual graves are to be blessed in due form on each occasion.
Điều 1241
§1. Các giáo xứ và các hội dòng có thể có nghĩa trang riêng.
§2. Các pháp nhân khác hay các gia đình cũng có thể có nghĩa trang hay hầm mộ riêng, nghĩa trang và hầm mộ này phải được làm phép, tùy theo sự thẩm định của Đấng Bản Quyền địa phương.
Canon 1241
§1 Parishes and religious institutes may each have their own cemetery.
§2 Other juridical persons or families may each have their own special cemetery or burial place which, if the local Ordinary judges accordingly, is to be blessed.
Điều 1242
Không được chôn cất các thi hài trong các nhà thờ, trừ khi thi hài của Đức Giáo Hoàng Rôma, của các Hồng Y và của các Giám Mục giáo phận, ngay cả nguyên Giám Mục, thì phải được chôn cất trong nhà thờ của mình.
Canon 1242
Bodies are not to be buried in churches, unless it is a question of the Roman Pontiff or of Cardinals or, in their proper Churches, of diocesan Bishops even retired.
Điều 1243
Luật địa phương phải ấn định những quy tắc thích hợp về kỷ luật phải giữ trong các nghĩa trang, nhất là về những gì liên quan tới việc duy trì và bảo vệ tính cách thiêng liêng của những nơi ấy.
Canon 1243
Appropriate norms are to be enacted by particular law for the management of cemeteries, especially in what concerns the protection and the fostering of their sacred character.
Điều 1244
§1. Việc thiết lập, chuyển dời và hủy bỏ những ngày lễ cũng như các ngày sám hối chung cho Giáo Hội toàn cầu thuộc về một mình quyền bính tối cao của Giáo Hội; miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1246
§2.
§2. Các Giám Mục giáo phận có thể ấn định các ngày lễ hoặc các ngày sám hối riêng cho giáo phận hay cho một vài nơi trong giáo phận, nhưng chỉ từng lần mà thôi.
Canon 1244
§1 Only the supreme ecclesiastical authority can establish, transfer or suppress holydays or days of penance which are applicable to the universal Church, without prejudice to the provisions of can. 1246
§2.
§2 Diocesan Bishops can proclaim special holydays or days of penance for their own dioceses or territories, but only for individual occasions.
Điều 1245
Miễn là vẫn giữ nguyên quyền của Giám Mục giáo phận được nói đến ở điều 87, vì một lý do chính đáng, và theo quy định của Giám Mục giáo phận, cha sở, trong từng trường hợp, có thể miễn chuẩn nghĩa vụ phải giữ một ngày lễ hay một ngày sám hối hoặc thay thế nghĩa vụ ấy gằng một việc đạo đức khác; Bề Trên của một hội dòng hay của một tu đoàn tông đồ cũng có những quyền ấy đối với những người thuộc quyền mình và những người khác đêm ngày cư ngụ trong nhà mình, nếu hội dòng và tu đoàn thuộc luật giáo hoàng.
Canon 1245
Without prejudice to the right of diocesan Bishops as in can. 87, a parish priest, in individual cases, for a just reason and in accordance with the prescriptions of the diocesan Bishop, can give a dispensation from the obligation of observing a holyday or day of penance, or commute the obligation into some other pious works. The Superior of a pontifical clerical religious institute or society of apostolic life has the same power in respect of his own subjects and of those who reside day and night in a house of the institute or society.
Điều 1246
§1. Theo truyền thống tông đồ, mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành trong ngày Chúa Nhật, ngày đó phải được giữ như là ngày lễ buộc chính yếu trong Giáo Hội toàn cầu. Và cũng phải giữ như là ngày lễ buộc chính yếu những ngày lễ Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, lễ Hiển Linh, lễ Thăng Thiên, lễ Mình và Máu Rất Thánh Đức Kitô, lễ Thánh Maria Mẹ Thiên Chúa, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm và lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, lễ Thánh Giuse, lễ hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, và sau cùng là lễ các thánh.
§2. Tuy nhiên, với sự phê chuẩn trước của Tòa Thánh, Hội Đồng Giám Mục có thể hủy bỏ hoặc chuyển một số lễ buộc sang ngày Chúa Nhật.
Canon 1246
§1 The Lord’s Day, on which the paschal mystery is celebrated, is by apostolic tradition to be observed in the universal Church as the primary holyday of obligation. In the same way the following holydays are to be observed: the Nativity of Our Lord Jesus Christ, the Epiphany, the Ascension of Christ, the feast of the Body and Blood of Christ, the feast of Mary the Mother of God, her Immaculate Conception, her Assumption, the feast of St Joseph, the feast of the Apostles SS Peter and Paul, and the feast of All Saints.
§2 However, the Episcopal Conference may, with the prior approval of the Apostolic See, suppress certain holydays of obligation or transfer them to a Sunday. [The Dicastery for Divine Worship and the Discipline of the Sacraments has clarified in a Note of 23.I.2025 that in the case of an occasional occurrentia festorum which gives rise to the transfer of a holyday of obligation, the obligation to attend Mass is not transferred]
Điều 1247
Các tín hữu buộc phải tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc khác; hơn nữa, còn phải kiêng làm việc xác và những công việc gây trở ngại cho việc thờ phượng Thiên Chúa, cho niềm vui riêng trong ngày của Chúa, hoặc cho việc nghỉ ngơi cần thiết của tinh thần và thể xác.
Canon 1247
On Sundays and other holydays of obligation, the faithful are obliged to assist at Mass. They are also to abstain from such work or business that would inhibit the worship to be given to God, the joy proper to the Lord’s Day, or the due relaxation of mind and body.
Điều 1248
§1. Người nào tham dự Thánh Lễ được cử hành theo nghi thức Công giáo trong chính ngày lễ hoặc chiều ngày áp lễ ở bất cứ nơi nào, thì đã giữ trọn luật buộc phải tham dự Thánh Lễ.
§2. Nếu không thể tham dự việc cử hành Thánh Lễ vì thiếu thừa tác viên có chức thánh hay vì bất cứ lý do nghiêm trọng nào khác, tha thiết khuyên nhủ các tín hữu nên tham dự phụng vụ Lời Chúa được cử hành theo những quy định của Giám Mục giáo phận trong nhà thờ giáo xứ, nếu có, hoặc tại một nơi thánh nào khác, hoặc nên cầu nguyện trong một thời gian thích hợp, cách riêng tư hoặc với gia đình, hoặc với các nhóm gia đình, tùy dịp.
Canon 1248
§1 The obligation of assisting at Mass is satisfied wherever Mass is celebrated in a Catholic rite either on a holyday itself or on the evening of the previous day.
§2 If it is impossible to assist at a eucharistic celebration, either because no sacred minister is available or for some other grave reason, the faithful are strongly recommended to take part in a liturgy of the Word, if there be such in the parish church or some other sacred place, which is celebrated in accordance with the provisions laid down by the diocesan Bishop; or to spend an appropriate time in prayer, whether personally or as a family or, as occasion presents, in a group of families.
Điều 1249
Luật Thiên Chúa buộc tất cả mọi Kitô hữu phải làm việc sám hối, mỗi người theo cách thức của mình, nhưng để mọi người được hiệp nhất trong cách tuân giữ chung việc sám hối, luật quy định những ngày sám hối, và trong những ngày ấy, các Kitô hữu phải cầu nguyện cách đặc biệt, phải thực hành việc đạo đức và bác ái, phải từ bỏ chính mình bằng cách chu toàn các nghĩa vụ của mình cách trung thành hơn, và nhất là bằng cách giữ chay và kiêng thịt, chiếu theo quy tắc của các điều khoản sau đây.
Canon 1249
All Christ’s faithful are obliged by divine law, each in his or her own way, to do penance. However, so that all may be joined together in a certain common practice of penance, days of penance are prescribed. On these days the faithful are in a special manner to devote themselves to prayer, to engage in works of piety and charity, and to deny themselves, by fulfilling their obligations more faithfully and especially by observing the fast and abstinence which the following canons prescribe.
Điều 1250
Những ngày và mùa sám hối trong Giáo Hội toàn cầu là các ngày thứ sáu trong năm và mùa Chay.
Canon 1250
The days and times of penance for the universal Church are each Friday of the whole year and the season of Lent.
Điều 1251
Vào các ngày thứ sáu trong năm, nếu không trùng với một trong những ngày lễ trọng, thì phải kiêng thịt hoặc phải kiêng một thức ăn nào khác, theo quy định của Hội Đồng Giám Mục; nhưng phải kiêng thịt và ăn chay trong ngày thứ tư Lễ Tro và ngày thứ sáu kính cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.
Canon 1251
Abstinence from meat, or from some other food as determined by the Episcopal Conference, is to be observed on all Fridays, unless a solemnity should fall on a Friday. Abstinence and fasting are to be observed on Ash Wednesday and Good Friday.
Điều 1252
Những người đã được mười bốn tuổi trọn buộc phải giữ luật kiêng thịt, nhưng tất cả mọi người từ tuổi thành niên cho đến khi bắt đầu được sáu mươi tuổi phải giữ luật ăn chay. Tuy nhiên, các vị chủ chăn các linh hồn và các bậc cha mẹ phải liệu sao để cả những người trẻ được miễn khỏi giữ luật ăn chay kiêng thịt vì lý do tuổi tác cũng được giáo dục về ý nghĩa đích thực của việc sám hối.
Canon 1252
The law of abstinence binds those who have completed their fourteenth year. The law of fasting binds those who have attained their majority, until the beginning of their sixtieth year. Pastors of souls and parents are to ensure that even those who by reason of their age are not bound by the law of fasting and abstinence, are taught the true meaning of penance.
Điều 1253
Hội Đồng Giám Mục có thể ấn định rõ ràng hơn những thể thức ăn chay và kiêng thịt, cũng như những hình thức sám hối khác, nhất là những công việc bác ái và những việc đạo đức có thể thay thế toàn phần hay một phần việc kiêng thịt và ăn chay.
Canon 1253
The Episcopal Conference can determine more particular ways in which fasting and abstinence are to be observed. In place of abstinence or fasting it can substitute, in whole or in part, other forms of penance, especially works of charity and exercises of piety.