Thánh Simon và Giuđa (Thánh Tông Đồ)
Vericath AI
- Thánh Simon và Thánh Giuđa là hai tông đồ trong Nhóm Mười Hai, luôn đứng cạnh nhau trong các danh sách Tân Ước và được Giáo hội mừng kính chung vào ngày 28 tháng 10 từ thế kỷ VIII.
- Thánh Simon (được gọi là Nhiệt thành hay Kananaios) nổi bật với lòng gắn bó nhiệt thành với Lề Luật và Thiên Chúa; các chi tiết về hoạt động và cái chết của ngài chủ yếu thuộc về truyền thuyết.
- Thánh Giuđa (còn gọi là Tađêô) là tác giả Thư Giuđa trong Tân Ước, nổi tiếng với câu hỏi trong Bữa Tiệc Ly và được tôn kính đặc biệt là vị thánh bổn mạng của các trường hợp tuyệt vọng.
- Hầu hết thông tin về cuộc đời và cái chết của hai ngài ngoài Tân Ước đều xuất phát từ truyền thuyết hậu kỳ, trong khi thánh tích hiện nay được tôn kính tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô ở Vatican và một số nơi khác.
Lý do phụng vụ trực tiếp là vì trong cả bốn danh sách Tông đồ của Tân Ước, tên của hai ngài luôn đứng cạnh nhau và có rất ít thông tin lịch sử chắc chắn về từng vị. Bên cạnh đó, theo truyền thống (như sách Công vụ Simon và Giuđa giả kinh và Truyền thuyết vàng), hai ngài đã cùng nhau sang Ba Tư rao giảng Tin Mừng và chịu tử đạo tại đây.
Trong Tân Ước, ngoài việc có tên trong các danh sách Tông đồ, Thánh Giuđa được ghi nhớ qua câu hỏi trong Bữa Tiệc Ly: 'Thưa Thầy, cớ gì Thầy sẽ tỏ mình ra cho chúng con mà không tỏ cho thế gian?' (Ga 14,22). Ngài cũng chính là tác giả của Thư Giuđa, một bức thư ngắn gồm 25 câu cảnh giác các tín hữu trước những kẻ gây chia rẽ và kêu gọi gìn giữ đức tin.
Có hai lý do bổ sung cho nhau: Thứ nhất, do trùng tên với Giuđa Iscariot - kẻ phản bội, các tín hữu thời sơ khai ngại cầu khẩn ngài và chỉ chạy đến với ngài khi mọi phương thế khác đều bất thành. Thứ hai, theo thị kiến của các vị thánh như Thánh Birgitta Thụy Điển và Thánh Bênađô, biệt danh Tađêô của ngài có nghĩa là nhân hậu, đáng yêu, nên ngài luôn sẵn lòng giúp đỡ những ai đến với ngài bằng đức tin lớn.
Thánh Simon và Thánh Giuđa là hai trong Nhóm Mười Hai Tông đồ của Chúa Giêsu. Trong cả bốn danh sách Tông đồ của Tân Ước, hai ngài luôn đứng cạnh nhau, và từ thế kỷ VIII Giáo hội mừng lễ kính chung hai ngài vào ngày 28 tháng 10 hằng năm. Ngoài các danh sách, một câu hỏi của Giuđa trong Bữa Tiệc Ly và một bức thư ngắn trong Tân Ước, người ta biết rất ít điều chắc chắn về hai ngài; phần lớn những gì được kể lại thuộc về truyền thống các thế kỷ sau.
Thánh Simon Nhiệt thành
Trong các danh sách Tông đồ (Mt 10,2-4; Mc 3,16-19; Lc 6,14-16; Cv 1,13), Simon đứng thứ mười một theo Mátthêu và Máccô, hoặc thứ mười theo Luca và sách Công vụ, ngay trước Giuđa Tađêô. Ngoài các danh sách này, Tân Ước hoàn toàn im lặng về ngài. Mátthêu và Máccô gọi ngài là “ho Kananaios“, Luca và sách Công vụ gọi là “ho Zēlōtēs“; cả hai có cùng một nghĩa, vì tiếng Hy Lạp zēlōtēs là bản dịch của từ Aram qan’ana’, nghĩa là kẻ sốt sắng, người nhiệt thành. Đức Bênêđictô XVI giải thích động từ Hípri qanà’ vừa diễn tả Thiên Chúa “ghen tương” với dân được chọn, vừa diễn tả những con người cháy bỏng nhiệt tâm phụng sự Thiên Chúa như ngôn sứ Êlia. Vì thế Simon nổi bật vì lòng gắn bó nồng nhiệt với căn tính Do Thái, với Thiên Chúa, dân Người và Lề Luật; chưa chắc ngài đã thuộc phong trào chính trị Nhiệt thành chống Rôma. Đức Bênêđictô XVI còn lưu ý một điểm thần học đẹp: nếu Simon từng chống Rôma, thì Mátthêu, người thu thuế phục vụ chính quyền Rôma, lại là bạn đồng hành của ngài trong Nhóm Mười Hai; Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ từ những lập trường khác nhau nhất, và điều gắn kết họ chính là Người.
Cần phân biệt: cả hai danh xưng đều không liên quan đến “người Canaan”. Một số bản chép tay viết nhầm thành Kananitēs (người từ Cana), khiến Thánh Giêrônimô đồng nhất ngài với chàng rể trong tiệc cưới Cana; truyền thống Byzantine còn đồng nhất ngài với Nathanael. Theo Tân Bách khoa Công giáo, cả hai dạng chữ đều không dính dáng gì đến từ “Canaanite”.
Về hoạt động của Simon sau thời các Tông đồ, mọi chi tiết đều thuộc truyền thuyết. Truyền thống Tây phương phổ biến nhất kể rằng sau khi rao giảng tại Ai Cập, Simon hội ngộ với Giuđa tại Lưỡng Hà rồi cùng sang Ba Tư, cải hóa hàng chục ngàn người, rồi cả hai cùng chịu tử đạo khoảng năm 65. Thánh Venantius Fortunatus, Giám mục Poitiers thế kỷ VI, viết hai ngài chịu tử đạo và được chôn cất tại Suanir, thành phố của Ba Tư. Theo truyền thuyết, ngài bị cưa đôi người, vì thế nghệ thuật thánh thường vẽ ngài cầm chiếc cưa. Các truyền thống khác kể khác nhau: Thánh Basiliô Cả (thế kỷ IV) nói ngài chết bình an tại Thượng Lưỡng Hà; có truyền thống nói ngài an nghỉ tại Edessa, bị đóng đinh tại Samaria, hay được chôn ở Anakopia (Gruzia). Tân Bách khoa Công giáo lưu ý chi tiết “bị cưa” là mô típ mượn từ sách Khải huyền Êsai giả kinh, và các “Công vụ Simon và Giuđa” giả kinh là nguồn chính của những truyền thuyết này. Ngài là bổn mạng của thợ thuộc da, thợ cưa và thợ rừng.
Thánh Giuđa Tađêô
Mátthêu và Máccô gọi ngài là “Tađêô”; Luca gọi là “Giuđa, con (hoặc anh) của Giacôbê”; Gioan gọi là “Giuđa, không phải Iscariot”. Tên “Tađêô” có gốc không chắc: hoặc từ tiếng Aram taddà’ (quảng đại, đại lượng), hoặc là dạng rút gọn của một tên Hy Lạp như Theodoro. Biệt danh Tađêô giúp phân biệt ngài với Giuđa Iscariot, kẻ phản bội.
Theo truyền thống Công giáo Latinh, Giuđa là anh em họ của Chúa Giêsu: con của ông Cleophas (còn gọi là Alphê, anh hoặc em của Thánh Giuse) và bà Maria Cleophas, người được Tin Mừng gọi là “chị em” của Đức Mẹ. Trong thư, Giuđa tự xưng là “anh của Giacôbê”, tức Giacôbê thành Giêrusalem, vị Giám mục đầu tiên của Giêrusalem; theo tập quán Hy Lạp, người ta có thể gọi một người bằng tên người anh nổi tiếng hơn.
Chi tiết duy nhất về Giuđa ngoài các danh sách nằm trong Bữa Tiệc Ly: “Thưa Thầy, cớ gì Thầy sẽ tỏ mình ra cho chúng con mà không tỏ cho thế gian?” (Ga 14,22). Đức Bênêđictô XVI gọi đây là câu hỏi mà mỗi người chúng ta cũng đặt ra: tại sao Đấng Phục Sinh không hiện ra vinh quang cho kẻ thù? Chúa Giêsu đáp: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy; Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Đấng Phục Sinh phải được “nhìn thấy bằng con tim”; sự tỏ mình của Người đòi hỏi một tâm hồn mở ra.
Ngài là tác giả Thư Giuđa, một trong các thư Công giáo của Tân Ước, chỉ vỏn vẹn hai mươi lăm câu, cảnh giác các tín hữu trước những kẻ “lấy ân sủng của Thiên Chúa làm cớ cho lối sống dâm ô… gây chia rẽ trong Hội Thánh”, so sánh chúng với các thiên thần sa ngã và những kẻ “đi theo đường Cain”, rồi kêu gọi tín hữu “xây dựng đời mình trên đức tin chí thánh, cầu nguyện trong Thánh Thần, giữ mình trong tình yêu Thiên Chúa”. Điểm đặc biệt: thư trích dẫn văn chương khải huyền Do Thái (sách Sự Thăng Thiên của Môsê, sách Hênóc) và có quan hệ văn chương mật thiết với Thư thứ hai của Thánh Phêrô; các học giả ước tính thư được viết khoảng năm 65.
Truyền thống kể ngài rao giảng tại Giuđê, Samaria, Iđumê, Syria, Lưỡng Hà, Libya, rồi đến Edessa, Armenia và Ba Tư. Sử gia Eusêbiô thành Caesarea, trong Lịch sử Giáo hội (quyển I, chương 13), thuật rằng vua Abgar V xứ Edessa bị bệnh nan y đã viết thư mời Chúa Giêsu đến chữa lành; sau biến cố Thăng Thiên, Thaddeus (tiếng Syria là Addai), do Tông đồ Tôma sai đi, đã đến Edessa chữa lành nhà vua và cải hóa dân thành. Truyền thống Tây phương về sau đồng nhất Thaddeus này với chính Thánh Giuđa Tađêô Tông đồ, và từ đó có hình ảnh ngài cầm chiếc khăn thánh mà Chúa đã áp mặt vào, sai mang đến cho vua Abgar để chữa lành nhà vua. Vì tích này, nghệ thuật thường vẽ ngài đeo huy chương mang hình Chúa Giêsu, với ngọn lửa trên đầu nhắc biến cố Hiện xuống và chiếc áo xanh lá, màu của hy vọng.
Về cuộc tử đạo, truyền thống Tây phương phổ biến nhất kể ngài cùng Simon chịu tử đạo tại Ba Tư khoảng năm 65, bị đánh bằng gậy (có nguồn nói bị chém hoặc bị đâm bằng giáo dài). Eusêbiô, qua Hegesippus, còn kể hai người cháu của Giuđa bị điệu đến trước hoàng đế Domitian vì thuộc dòng dõi Đavít, nhưng được thả khi tỏ ra chỉ là nông dân nghèo. Thánh Giêrônimô, trong De viris illustribus, cũng ghi nhận Giuđa, anh của Giacôbê, là tác giả bức thư ngắn có trích dẫn sách Hênóc.
Thánh Giuđa được tôn kính cách đặc biệt như bổn mạng của những trường hợp tuyệt vọng, với hai lý giải bổ sung cho nhau. Một là vì trùng tên với kẻ phản bội, các tín hữu thời sơ khai ngại cầu khẩn ngài, chỉ chạy đến với ngài khi mọi phương thế khác đều bất thành. Hai là theo thị kiến của Thánh Birgitta Thụy Điển: Chúa Giêsu hiện ra bảo thánh nữ hãy chạy đến với Thánh Giuđa với đức tin lớn, vì biệt danh Tađêô nghĩa là nhân hậu, đáng yêu, nên ngài “sẽ tỏ ra rất sẵn lòng giúp đỡ”; người ta cũng kể Thánh Bênađô có thị kiến tương tự.
Lòng sùng kính ngài bùng nổ tại Hoa Kỳ đầu thế kỷ XX: năm 1929, cha James Tort, linh mục dòng Claretian, khởi xướng các buổi sùng kính Thánh Giuđa tại Chicago, dẫn đến việc thiết lập Đền Thánh Quốc gia Thánh Giuđa; trong thời Đại Suy thoái và Thế chiến II, hàng ngàn người tham dự các tuần cửu nhật kính ngài. Ngài còn là bổn mạng của bệnh viện, nhân viên y tế và cảnh sát Chicago.
Vì sao lễ kính chung ngày 28 tháng 10
Lý do phụng vụ trực tiếp nằm ngay trong Tân Ước: trong cả bốn danh sách Tông đồ, Simon và Giuđa Tađêô luôn đứng cạnh nhau. Đức Bênêđictô XVI cho biết ngài xét hai vị cùng nhau, không chỉ vì vị trí kề nhau trong các danh sách, mà còn vì có rất ít thông tin chắc chắn về các ngài. Lý do thứ hai thuộc về truyền thống: theo các “Công vụ Simon và Giuđa” giả kinh, được hệ thống hóa trong Truyền thuyết vàng của Jacobus de Voragine thế kỷ XIII, hai ngài cùng sang Ba Tư rao giảng rồi chịu tử đạo tại Suanir vì từ chối thờ ngẫu tượng; Thánh Venantius Fortunatus thế kỷ VI là chứng nhân văn bản sớm nhất về việc hai ngài được chôn cất tại đó. Từ thế kỷ VIII, Giáo hội mừng lễ kính chung hai ngài vào ngày 28 tháng 10; tên hai ngài cũng đứng cạnh nhau trong Kinh nguyện Thánh Thể Rôma. Bậc lễ là lễ kính, bậc dành cho các Tông đồ.
Cần nói rõ ranh giới giữa lịch sử và truyền thuyết: ngoài các danh sách Tân Ước, câu hỏi trong Bữa Tiệc Ly và Thư Giuđa, hầu hết chi tiết về hai ngài đều thuộc truyền thuyết hậu kỳ từ thế kỷ IV trở đi, không thể kiểm chứng bằng lịch sử.
Thánh tích và nơi tôn kính
Hài cốt của cả hai vị được đưa về Rôma, hiện an nghỉ dưới bàn thờ Thánh Giuse, cánh trái Vương cung thánh đường Thánh Phêrô tại Vatican. Nhà thờ Saint-Sernin tại Toulouse (Pháp) và thành phố Reims cũng nhận mình lưu giữ thánh tích hai ngài. Đền Thánh Quốc gia Thánh Giuđa tại Chicago được Vatican ban hai thánh tích hạng nhất vào thập niên 1940, một đặt tại bàn thờ, một đặt tại ghế quỳ cho khách hành hương chạm vào. Theo truyền thống Đông phương, hài cốt Thánh Simon được chuyển về Anakopia (Abkhazia, Gruzia), nơi có đan viện New Athos.


