Thánh Gioan Capestranô (1386-1456)
Vericath AI
- Thánh Gioan Capestranô (1386-1456) là một tu sĩ Dòng Phanxicô người Ý, xuất thân là luật sư và quan cai trị trước khi từ bỏ thế gian để gia nhập dòng tu.
- Ngài nổi danh khắp châu Âu thế kỷ XV là nhà giảng thuyết nhiệt thành, nhà cải tổ dòng tu, sứ giả của bốn đời giáo hoàng và người cổ võ mạnh mẽ lòng tôn sùng Danh Thánh Chúa Giêsu.
- Năm 1456, dù đã 70 tuổi, ngài đã dẫn đầu đạo quân thập tự chinh giành chiến thắng vang dội tại Belgrad, chặn đứng đà tiến của đế quốc Ottoman vào Trung Âu.
- Ngài qua đời vì dịch hạch vào ngày 23 tháng 10 năm 1456, được phong thánh năm 1690 và hiện là bổn mạng các tuyên úy quân đội Công giáo cùng giới luật gia.
Trước khi trở thành tu sĩ Dòng Phanxicô, ngài là một tiến sĩ luật, hành nghề luật sư và từng được bổ nhiệm làm quan cai trị thành Perugia năm 1412.
Năm 1456, ngài đã dẫn đầu đạo quân thập tự chinh (chủ yếu gồm nông dân, thợ thuyền và sinh viên), giương cao thánh giá và hô vang Danh Thánh Giêsu để giành chiến thắng tại trận Belgrad, chặn đứng đà xâm lược Trung Âu của đế quốc Ottoman.
Thánh Gioan Capestranô là bổn mạng của các tuyên úy quân đội Công giáo trên toàn thế giới (theo tông thư của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II năm 1984) và là bổn mạng của giới luật gia.
Thánh Gioan Capestranô (1386-1456) là tu sĩ Dòng Phanxicô người Ý, nhà giảng thuyết lừng danh khắp châu Âu thế kỷ XV và người dẫn đầu đạo quân thập tự chinh giành chiến thắng tại Belgrad năm 1456, chặn đứng đà tiến của đế quốc Ottoman vào Trung Âu. Từ một luật sư và quan cai trị thành phố, ngài trở thành sứ giả của bốn đời giáo hoàng, nhà cải tổ Dòng Phanxicô và được gọi là “vị linh mục chiến sĩ”. Giáo hội mừng lễ kính ngài ngày 23 tháng 10 hằng năm.
Từ luật sư đến tu sĩ
Giovanni da Capestrano sinh ngày 24 tháng 6 năm 1386 tại Capestrano, thị trấn pháo đài thời trung cổ thuộc vùng Abruzzo, phía đông Rôma. Cha ngài là một nam tước gốc Pháp hoặc Đức theo đoàn quân nhà Anjou sang Ý, mất sớm khi Gioan còn nhỏ; mẹ ngài là quý phu nhân người Abruzzo, đích thân lo việc học hành cho con. Gioan học luật dân sự và giáo luật tại Đại học Perugia dưới sự hướng dẫn của nhà luật học danh tiếng Pietro de Ubaldis, đỗ tiến sĩ luật và hành nghề luật sư tại triều đình Naples, nhanh chóng trở thành nhân vật có thế giá.
Năm 1412, khi mới hai mươi sáu tuổi, ngài được vua Ladislao của Naples bổ nhiệm làm quan cai trị thành Perugia, nổi tiếng liêm chính, dẹp nạn tham nhũng trong guồng máy thành phố. Cùng thời gian này, ngài kết hôn với con gái một gia đình quý tộc Perugia. Năm 1416, chiến tranh bùng nổ giữa Perugia và nhà Malatesta; Gioan được cử làm sứ giả đi giảng hòa nhưng bị bắt giam làm tù binh chính trị.
Trong tù, ngài có một giấc mơ thấy Thánh Phanxicô Assisi hiện ra và mời gọi vào Dòng Phanxicô, từ đó quyết tâm từ bỏ thế gian. Cuộc hôn nhân chưa thành sự nên ngài được giải hôn phối với sự ưng thuận của vợ. Sau khi được thả, ngài làm việc đền tội công khai: cưỡi lừa ngược đi qua thành phố, đội mũ giấy ghi danh sách các tội của mình. Ngày 4 tháng 10 năm 1416, lễ Thánh Phanxicô, ngài gia nhập tập viện Dòng Phanxicô nhánh Tuân Thủ Nghiêm Nhặt tại Perugia, lúc ba mươi tuổi.
Môn đệ Thánh Bênađinô và nhà giảng thuyết
Sau khi khấn dòng, Gioan chịu ảnh hưởng sâu đậm của Thánh Bênađinô Siêna, học thần học với ngài và tháp tùng ngài trong các chuyến giảng thuyết để học phương pháp. Học theo thầy, Gioan đặc biệt sùng kính Danh Thánh Chúa Giêsu, rao giảng và cổ võ lòng tôn sùng này khắp nơi. Năm 1427, khi Bênađinô bị tố cáo lạc giáo vì việc tôn sùng Danh Thánh, Gioan lập tức lên Rôma bào chữa cho thầy trước ủy ban gồm bảy mươi hai bậc học giả tại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô; Bênađinô được minh oan hoàn toàn.
Ngài bắt đầu giảng từ năm 1420 khi còn là phó tế, và đời tông đồ thực sự mở ra sau khi thụ phong linh mục năm 1425. Từ đó đến cuối đời, ngài rao giảng không mệt mỏi khắp bán đảo Ý rồi sang Đức, Áo, Bohemia, Hungary và Ba Lan. Đám đông quá lớn nên ngài thường phải giảng ngoài quảng trường; khi ngài giảng, mọi hoạt động buôn bán trong thành đều ngưng lại. Nhiều phép lạ chữa lành xảy ra trong các buổi giảng; ngài đã hoán cải nhiều người Do Thái ở Đông Âu và thuyết phục hơn một trăm sinh viên đại học gia nhập Dòng Phanxicô. Đời sống khổ hạnh của ngài phi thường: đi chân đất, ăn chay hằng ngày, các bài giảng thường kéo dài hai đến ba giờ.
Nhà cải tổ Dòng và sứ giả giáo hoàng
Dòng Phanxicô lúc ấy chia rẽ giữa hai khuynh hướng: Conventuals và Observants, tức những người tuân thủ nghiêm nhặt luật khó nghèo của Thánh Phanxicô. Nhờ am hiểu luật, Gioan bênh vực phe Observants, giúp dẹp nhóm Fraticelli lạc giáo, và từng giữ chức tổng đại diện của anh em tuân thủ. Từ năm 1439, bốn đời giáo hoàng liên tiếp dùng ngài làm sứ giả tông tòa tại Palestine, Ba Lan, Pháp, Áo và Bohemia; ngài làm khâm sứ tại Sicilia và tham gia Công đồng Florence, góp phần đưa các Giáo hội Hy Lạp và Armenia hiệp nhất ngắn ngủi với Rôma.
Với tư cách sứ giả hoặc điều tra viên đức tin, ngài hoạt động chống các nhóm lạc giáo: Fraticelli ở Ferrara, Jesuati ở Venice, và nhất là người Hussite, môn đệ của Jan Hus, tại Đức, Hungary và Bohemia. Năm 1451, Giáo hoàng Nicôla V sai ngài sang Áo chuyên lo việc đưa người Hussite trở lại. Các sử gia đời sau phê phán sự nhiệt thành có phần cực đoan của ngài trong những hoạt động này; cần nhìn nhận trung thực, đặt trong bối cảnh thế kỷ XV, một thời đại mà ranh giới giữa bảo vệ đức tin và bạo lực tôn giáo thường mong manh.
Ngài để lại mười chín tập trước tác và hơn bảy trăm bức thư, trong đó có luận thuyết Speculum clericorum, tức Gương soi hàng giáo sĩ, được trích trong Giờ Kinh Phụng Vụ ngày lễ kính ngài.
Trận Belgrad 1456
Ngày 29 tháng 5 năm 1453, Constantinople thất thủ vào tay Sultan Mehmed II. Giáo hoàng Nicôla V sai Gioan đi kêu gọi các nhà lãnh đạo châu Âu bảo vệ đất đai; Giáo hoàng Calixtô III, lên ngôi năm 1455, còn tha thiết hơn, ủy thác cho ngài rao giảng thập tự chinh chống Ottoman. Lời kêu gọi ban đầu ít được hưởng ứng, nhưng sau một thị kiến trong thánh lễ, ngài quy tụ được đạo quân thập tự chinh gồm chủ yếu nông dân, thợ thuyền, sinh viên và tu sĩ, lúc ngài đã bảy mươi tuổi.
Mùa hè 1456, Mehmed II đem đại quân vây hãm Belgrad, pháo đài then chốt án ngữ cửa ngõ Vương quốc Hungary nơi sông Sava hợp lưu với sông Danube. Thủ thành Michael Szilágyi giữ thành với vài ngàn quân; tướng János Hunyadi, thống đốc nhiếp chính Hungary, đem khoảng mười nghìn quân thiện chiến ứng cứu. Ngày 14 tháng 7 năm 1456, Hunyadi phá vỡ vòng phong tỏa đường sông của Ottoman và tiến vào thành tiếp tế.
Đêm 21 rạng ngày 22 tháng 7, quân Ottoman tổng tấn công. Gioan đích thân giương cao thánh giá, hô vang Danh Thánh Giêsu, dẫn đầu đoàn quân thập tự vượt sông Sava phản công. Ngày 22 tháng 7 năm 1456, quân Kitô giáo toàn thắng: Sultan Mehmed II bị thương, viên chỉ huy Janissary tử trận, quân Ottoman tháo chạy. Chiến thắng này chặn đứng đà tiến của Ottoman vào Trung Âu khoảng bảy mươi năm. Gioan được tung hô là tông đồ của châu Âu và mang biệt danh “vị linh mục chiến sĩ”.
Chuông trưa và lễ Chúa Hiển Dung
Ngày 29 tháng 6 năm 1456, trước trận đánh, Giáo hoàng Calixtô III ban tông sắc truyền mọi nhà thờ rung chuông lúc giữa trưa và cầu nguyện cho Hunyadi cùng quân sĩ chặn được quân Thổ. Nhiều người lầm tưởng sắc lệnh này nhằm kỷ niệm chiến thắng, nhưng thực ra nó được ban hành để cầu nguyện cho quân phòng thủ. Tin thắng trận đến Rôma ngày 6 tháng 8 năm 1456, đúng lễ Chúa Hiển Dung; Đức Giáo hoàng diễn giải lại: từ nay kinh nguyện lúc chuông trưa cũng là lời tạ ơn. Ngài không thu hồi sắc lệnh, nên tục rung chuông trưa còn giữ đến nay trong nhiều nhà thờ Công giáo, và ngày 22 tháng 7 trở thành ngày kỷ niệm quốc gia tại Hungary.
Cũng để tạ ơn chiến thắng Belgrad, Giáo hoàng Calixtô III mở rộng lễ Chúa Hiển Dung, mừng ngày 6 tháng 8, cho toàn thể Giáo hội; trước đó lễ này chỉ mừng ở một số nơi.
Qua đời, phong thánh và di sản
Sau chiến thắng, dịch hạch bùng phát trong trại quân thắng trận. Hunyadi ngã bệnh và qua đời ngày 11 tháng 8 năm 1456 tại Zemun; chính Gioan giảng bài giảng trong lễ an táng ông. Gioan cũng nhiễm bệnh, qua đời lúc ba giờ chiều thứ Bảy, ngày 23 tháng 10 năm 1456 tại Ilok, nay thuộc Croatia, hưởng thọ bảy mươi tuổi.
Ngài được phong chân phước năm 1650 và phong hiển thánh năm 1690 dưới thời Giáo hoàng Alêxanđrô VIII. Lễ kính ngài ban đầu là ngày 28 tháng 3; năm 1969, Đức Phaolô VI dời về ngày 23 tháng 10, ngày qua đời của ngài. Ngày 10 tháng 2 năm 1984, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II qua tông thư Servandus quidem tuyên bố Thánh Gioan Capestranô là bổn mạng các tuyên úy quân đội Công giáo trên toàn thế giới. Ngài cũng là bổn mạng của giới luật gia.
Hai cơ sở truyền giáo mang tên San Juan Capistrano do các tu sĩ Phanxicô Tây Ban Nha lập hồi thế kỷ XVIII: một ở California do Thánh Junípero Serra thành lập năm 1776, nổi tiếng với đàn chim én bay về hằng năm, và một ở San Antonio, Texas. Cùng với những chiến thắng đức tin khác như chiến thắng Muret hay trận Lepanto, trận Belgrad nhắc nhớ vai trò của cầu nguyện và lòng can đảm Kitô giáo trong những giờ phút thử thách nhất của lịch sử châu Âu.


