Thánh Gioan Brébeuf và các bạn (1642-1649)
Vericath AI
- Thánh Gioan Brébeuf và các bạn gồm tám tu sĩ Dòng Tên người Pháp chịu tử đạo tại Bắc Mỹ từ năm 1642 đến 1649 trong các cuộc xung đột giữa người Huron và người Iroquois.
- Họ đã có nhiều đóng góp lớn trong công cuộc truyền giáo, bao gồm việc xây dựng trung tâm Sainte-Marie, học ngôn ngữ bản địa và biên soạn các tài liệu lịch sử, văn hóa quý giá (Jesuit Relations).
- Nhiều vị đã chịu những hình thức tra tấn dã man và hy sinh anh dũng để bảo vệ đức tin và chăm sóc các tín hữu bản địa.
- Họ được Đức Piô XI phong hiển thánh vào năm 1930 với tước hiệu Các Thánh Tử đạo Bắc Mỹ và được Giáo hội mừng lễ kính vào ngày 19 tháng 10 hằng năm.
Gồm tám tu sĩ Dòng Tên người Pháp (sáu linh mục và hai tu sĩ trợ tá).
Các ngài chịu tử đạo trong bối cảnh xung đột đẫm máu về thương mại lông thú giữa liên minh người Huron (Wendat) và người Iroquois (Haudenosaunee) từ năm 1642 đến 1649.
Đền các Thánh Tử đạo tại Midland, Ontario, Canada (lưu giữ hộp sọ Thánh Brébeuf và các mảnh xương của Thánh Lalemant, Thánh Garnier).
Thánh Gioan Brébeuf và các bạn là tám tu sĩ Dòng Tên người Pháp đã tử đạo tại Bắc Mỹ trong những năm 1642-1649: sáu linh mục và hai tu sĩ trợ tá. Họ gồm Thánh Gioan Brébeuf, Thánh Isaac Jogues, Thánh Rênê Goupil, Thánh Antôn Daniel, Thánh Gioan de Lalande, Thánh Carôlô Garnier, Thánh Nôel Chabanel và Thánh Gabriel Lalemant. Bị giết trong các cuộc tấn công của người Iroquois vào các sứ vụ giữa lòng người Huron, họ được Đức Piô XI phong hiển thánh năm 1930, và Giáo hội mừng lễ kính chung ngày 19 tháng 10 hằng năm.
Bối cảnh: Huronia và cuộc chiến lông thú
Người Huron, tự gọi là Wendat, là một liên minh bốn bộ tộc nông dân định cư quanh vịnh Georgian thuộc Ontario ngày nay, với dân số ước tính khoảng ba mươi nghìn người. Họ giữ vai trò trung gian trong thương mại lông thú giữa các bộ tộc săn bắn phương Bắc và người Pháp, đổi lấy hàng kim loại, nồi niêu, rìu và đồ sứ. Từ thời nhà thám hiểm Samuel de Champlain, người Pháp liên minh quân sự với người Huron để chống lại kẻ thù truyền kiếp của họ là người Iroquois, tức liên minh Haudenosaunee.
Được người Hà Lan bán súng hỏa mai để giành quyền kiểm soát thương mại lông thú, người Iroquois từ khoảng năm 1637 trở thành nỗi ám ảnh của các đoàn thuyền Huron. Khi lông thú trong lãnh thổ của mình cạn kiệt, họ nuôi tham vọng tiêu diệt người Huron, và chính sách này được chính quyền New Holland ủng hộ vì sự sụp đổ của người Huron đồng nghĩa với sự sụp đổ thương mại của người Pháp. Cùng lúc, các đợt dịch đậu mùa và cúm do người Âu mang đến đã giảm dân số Huron từ ba mươi nghìn xuống còn khoảng mười hai nghìn, khiến nhiều người bản địa coi các tu sĩ là thầy phù thủy mang bệnh tật.
Các tu sĩ Dòng Tên đặt chân đến New France từ năm 1625. Năm 1639, sau cuộc họp tại làng Ossossane, họ quyết định xây một trung tâm riêng tách khỏi các làng Huron: Sainte-Marie giữa lòng người Huron, trên sông Wye, khu định cư châu Âu đầu tiên tại Ontario và trung tâm của mười sứ vụ. Từ đây các tu sĩ tỏa đi các làng, học tiếng Wendat, sống trong những ngôi nhà dài cùng người bản địa, và ghi chép lại đời sống của họ trong các tập Jesuit Relations, nguồn tư liệu quý giá cho hậu thế.
Gioan Brébeuf: tông đồ người Huron
Jean de Brébeuf sinh ngày 25 tháng 3 năm 1593 tại Condé-sur-Vire, vùng Normandy, nước Pháp, trong một gia đình quý tộc cổ. Năm hai mươi bốn tuổi, ngài gia nhập Dòng Tên tại Rouen, thụ phong linh mục năm 1622 tại Pontoise và khấn trọng năm 1630. Tháng 6 năm 1625, ngài cập bến Quebec cùng các tu sĩ Dòng Tên đầu tiên đến New France.
Ngay từ đầu, Brébeuf tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về ngôn ngữ. Ngài dành năm tháng sống du mục giữa tuyết lạnh cùng người Montagnais để học tiếng Algonkin, rồi đến xứ Huron lần đầu vào tháng 7 năm 1626 sau chuyến chèo xuồng tám trăm dặm từ Quebec. Người Huron gọi ngài là “Échon”, nghĩa là kẻ mang gánh nặng. Năm 1629, khi người Anh chiếm Quebec, ngài buộc phải về Pháp, rồi trở lại New France năm 1633 và không bao giờ rời đi nữa.
Ngày 19 tháng 9 năm 1634, Brébeuf thành lập Ihonatiria, trung tâm đầu tiên của sứ vụ Huron. Ngài biên soạn từ điển tiếng Huron đầu tiên, dịch sách giáo lý sang tiếng Wendat, và sáng tác bài thánh ca Giáng sinh “Huron Carol” khoảng năm 1642, được coi là thánh ca Giáng sinh cổ nhất của Canada. Những ghi chép dân tộc học của ngài về người Wendat được đánh giá là công trình mô tả dân tộc học dài và tham vọng nhất trong toàn bộ Jesuit Relations. Đời sống thiêng liêng của ngài cũng phi thường: năm 1637, ngài khấn không bao giờ từ chối ơn tử đạo, và nhật ký thiêng liêng của ngài là những trang văn thần bí cổ nhất của Canada.
Bảy bạn tử đạo
Thánh Rênê Goupil là vị tử đạo đầu tiên. Bị khiếm thính nên không được nhận vào Dòng Tên tại Pháp, ông học y khoa và tình nguyện sang Canada làm y tá không lương phục vụ các tu sĩ. Tháng 8 năm 1642, ông cùng cha Isaac Jogues bị người Mohawk bắt; trong thời gian bị giam, ông được nhận lời khấn làm tu sĩ trợ tá Dòng Tên. Ngày 29 tháng 9 năm 1642, chỉ vì làm dấu Thánh giá trên trán một đứa trẻ Mohawk, ông bị bổ rìu vào đầu và chết tại làng Ossernenon.
Thánh Isaac Jogues sinh năm 1607 tại Orléans, thụ phong linh mục năm 1636 và sang New France cùng năm. Bị bắt chung với Goupil, ngài chịu tra tấn dã man đến cụt các ngón tay, làm nô lệ hơn một năm rồi trốn thoát nhờ sự giúp đỡ của người Hà Lan, về đến Pháp đúng lễ Giáng sinh năm 1643. Tại Pháp, ngài được Đức Giáo hoàng ban đặc ân cho phép dâng lễ dù các ngón tay bị cụt, với lý do được ghi lại bằng tiếng Latinh: thật không xứng khi một vị tử đạo của Đức Kitô lại không được uống Máu Đức Kitô. Trở lại Canada, ngài làm sứ giả hòa bình với người Mohawk, nhưng ngày 18 tháng 10 năm 1646, ngài bị rìu bổ vào đầu tại Ossernenon. Thánh Gioan de Lalande, tu sĩ trợ tá đồng hành với ngài, bị giết bằng cách ấy vào hôm sau khi đang chăm sóc thi thể của ngài.
Thánh Antôn Daniel sinh năm 1601 tại Dieppe, đang học luật thì vào Dòng Tên. Ngài học tiếng Huron rất nhanh, dạy trẻ em hát kinh Lạy Cha và kinh Tin Kính bằng tiếng Huron. Ngày 4 tháng 7 năm 1648, người Iroquois tràn vào sứ vụ Saint-Joseph II đúng lúc ngài vừa dâng lễ xong. Ngài khích lệ các tân tòng, rồi một mình ra khỏi nhà nguyện tiến thẳng về phía quân thù, bị tên bắn xuyên người, miệng kêu tên Chúa Giêsu. Thi thể ngài bị ném vào ngọn lửa đang thiêu rụi nhà thờ. Ngài là vị tử đạo đầu tiên của Huronia.
Thánh Gabriel Lalemant sinh năm 1610 tại Paris, con một luật sư tại Tòa án Tối cao. Khi vào Dòng Tên, ngài được phép thêm lời khấn thứ tư dâng mình cho các sứ vụ ngoại quốc, nhưng phải chờ mười bốn năm mới được sang Canada. Thánh Carôlô Garnier sinh tại Paris, đến Quebec năm 1636, được người bản địa gọi là “Ouracha”, và truyền giáo thành công cho người Tobacco. Thánh Nôel Chabanel sinh năm 1613, là người duy nhất trong tám vị không có năng khiếu học ngôn ngữ và cảm thấy khó khăn lớn trước phong tục người bản địa, nhưng ngài đã khấn ở lại đến chết, và bản văn lời khấn anh hùng này được lưu trong Báo cáo năm 1650.
Ngày tử đạo 16 tháng 3 năm 1649
Sáng ngày 16 tháng 3 năm 1649, một nghìn chiến binh Iroquois chiếm làng Saint-Ignace trước bình minh gần như không tốn một mũi tên, rồi tiến đánh sứ vụ Saint-Louis cách đó khoảng một dặm. Brébeuf và cha Gabriel Lalemant đang ở Saint-Louis; được khuyên chạy trốn nhưng cả hai từ chối để ở lại cứu các linh hồn.
Cả hai bị lột quần áo, nhổ móng tay, dẫn về Saint-Ignace và chịu tra tấn nghi lễ: bị ném đá, đổ nước sôi lên đầu để nhạo báng phép Rửa tội, đeo vòng cổ rìu nung đỏ, lột da đầu, cắt môi vì Brébeuf không ngừng rao giảng về Thiên Chúa. Ngài chết lúc bốn giờ chiều ngày 16 tháng 3 năm 1649; quân Iroquois ăn tim ngài để hấp thụ lòng can đảm của ngài. Cuộc tử đạo của cha Lalemant bắt đầu lúc sáu giờ chiều cùng ngày và kéo dài đến sáng hôm sau. Theo các tường thuật của cha Christophe Regnault và cha Paul Ragueneau trong Jesuit Relations, Brébeuf chịu đựng trong thinh lặng, không một lời than van.
Tháng 12 năm 1649, cha Garnier bị giết tại làng Saint-Jean, thi thể mang hai vết đạn và hai nhát rìu; cha Chabanel bị một người Huron bội giáo giết chết ngày 8 tháng 12 trên đường về trung tâm, và thi thể ngài không bao giờ được tìm thấy. Tháng 6 năm 1649, các tu sĩ đã tự đốt Sainte-Marie để khỏi rơi vào tay người Iroquois, rồi rút ra đảo Saint-Joseph cùng vài trăm người Huron; đến năm 1650, tàn dư người Huron về định cư tại đảo Orléans, và liên minh Huron tan rã hoàn toàn.
Tiến trình phong thánh và đền thánh
Tám vị được Đức Piô XI phong chân phước ngày 21 tháng 6 năm 1925 và phong hiển thánh ngày 29 tháng 6 năm 1930 tại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô, với tước hiệu Các Thánh Tử đạo Bắc Mỹ. Năm 1940, Đức Piô XII tuyên bố Gioan Brébeuf cùng bảy bạn là bổn mạng thứ hai của Canada. Ba vị Goupil, Jogues và Lalande được coi là ba vị thánh đầu tiên của Hoa Kỳ, vì đã tử đạo trên đất nay thuộc bang New York.
Đền các Thánh Tử đạo tại Midland, Ontario, là đền thánh quốc gia của Canada, lưu giữ hộp sọ Thánh Brébeuf và các mảnh xương của Thánh Lalemant, Thánh Garnier trong hai tủ thánh tích, những xá lợi duy nhất còn lại của tám vị. Tháng 9 năm 1984, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viếng thăm và cầu nguyện trước sọ Thánh Brébeuf. Tại Auriesville, New York, trên nền làng Mohawk Ossernenon xưa, Đền Đức Mẹ các Thánh Tử đạo được thành lập từ năm 1885 và được công nhận là đền thánh quốc gia Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 2025.
Cùng với các thánh tử đạo Việt Nam và các chứng nhân đức tin khắp nơi, tám vị tử đạo Bắc Mỹ nhắc nhớ rằng máu các thánh tử đạo, như lời các giáo phụ thuở xưa, vẫn là hạt giống trổ sinh các Kitô hữu mới trên khắp thế giới.


