Thánh Anrê Dũng Lạc và các Thánh Tử Đạo Việt Nam
Vericath AI
- Thánh Anrê Dũng Lạc và 116 bạn tử đạo được Đức Gioan Phaolô II tuyên thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988, đại diện cho hàng trăm ngàn chứng nhân đức tin tại Việt Nam trong giai đoạn 1745-1862.
- Thánh Anrê Dũng Lạc (Trần An Dũng), sinh năm 1795 tại Bắc Ninh, chịu chức linh mục năm 1823, nổi tiếng là mục tử nhiệt thành, khiêm nhường và đã chịu án trảm quyết ngày 21 tháng 12 năm 1839 dưới triều vua Minh Mạng.
- Nhóm 117 vị thánh gồm 96 người Việt Nam và 21 thừa sai ngoại quốc (Tây Ban Nha và Pháp), thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau nhưng có chung một lòng quyết tâm giữ vững đức tin đến cùng.
- Giáo hội Công giáo Việt Nam và toàn cầu kính nhớ các Thánh Tử Đạo vào ngày 24 tháng 11 hằng năm, và Đức Gioan Phaolô II đã đặt các ngài làm bổn mạng của đất nước Việt Nam.
Được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 tại Quảng trường Thánh Phêrô, Rôma.
Nhóm gồm 96 người Việt Nam (linh mục, thầy giảng, chủng sinh, giáo dân) và 21 thừa sai ngoại quốc (gồm 8 giám mục, 13 linh mục thuộc dòng Đa Minh và Hội Thừa sai Paris). Các ngài chịu nhiều hình thức xử án khác nhau như trảm quyết (chém đầu), xử giảo (thắt cổ), thiêu sống, phân thây hoặc chết trong ngục tù vì tra tấn và đói khát.
Giáo hội ấn định lễ kính chung vào ngày 24 tháng 11 hằng năm, là ngày mà ba vị trong nhóm đã đổ máu vì đạo. Tại Việt Nam, Hội đồng Giám mục quyết định dời lễ kính sang ngày Chúa nhật liền trước hoặc liền sau ngày này để giáo dân dễ dàng tham dự hơn.
Thánh Anrê Dũng Lạc và các bạn tử đạo là tên gọi chung của 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam được Đức Gioan Phaolô II tuyên thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 tại Quảng trường Thánh Phêrô, Rôma. Trong danh sách chung ấy, Giáo hội đặt Thánh Anrê Dũng Lạc, linh mục triều người Bắc Ninh bị xử trảm năm 1839 dưới triều Minh Mạng, đứng đầu toàn nhóm, và ấn định lễ kính chung cho cả 117 vị vào ngày 24 tháng 11 hằng năm. Các vị đã đổ máu trong khoảng thời gian từ năm 1745 đến năm 1862, gồm 96 người Việt Nam, 11 thừa sai Tây Ban Nha thuộc dòng Đa Minh và 10 thừa sai Pháp thuộc Hội Thừa sai Paris. Phía sau con số 117 là một cộng đồng tử đạo ước tính từ 130.000 đến 300.000 người, những chứng nhân vô danh mà lễ tuyên thánh năm 1988 cũng muốn tôn vinh.
Anrê Dũng Lạc: từ cậu bé Bắc Ninh đến linh mục triều
Trần An Dũng sinh năm 1795 tại tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình nghèo chưa biết đạo. Năm 12 tuổi, cậu theo cha mẹ vào Kẻ Chợ, tức Hà Nội ngày nay, để kiếm sống. Tại đây, một thầy giảng Công giáo đã đón cậu về nuôi nấng, dạy dỗ đạo lý và lo cho cậu lãnh nhận bí tích Rửa Tội với tên thánh là Anrê. Nhờ học mau nhớ bài, cậu được chọn học chữ La-tinh, làm thầy giảng một thời gian rồi vào chủng viện học thần học.
Năm 28 tuổi, ngày 15 tháng 3 năm 1823, Anrê Dũng chịu chức linh mục tại Kẻ Vĩnh. Những năm đầu, ngài được sai đi giúp các cha xứ: giúp cha Khiết ở Đồng Chuối, giúp cha Thi ở Xứ Đoài, giúp cha Duyệt ở Sơn Miêng, rồi được cử làm chính xứ Kẻ Đầm, nay thuộc tỉnh Hà Nam, khi vừa tròn 40 tuổi. Ở đâu ngài cũng được giáo dân quý mến vì đối xử khôn khéo và giảng đạo sốt sắng. Ngài sống nhiệm nhặt: mùa Chay ăn chay mọi ngày, có khi cả thứ Tư và thứ Sáu trong năm; “Đừng làm như vậy, hãy mua tôm tép như thường dân khác mà ăn”. Ngài thương người nghèo, và khi đi thăm kẻ liệt thường đi một mình để các thầy khỏi bị liên lụy.
Bị bắt, tù đày và án trảm quyết
Triều Nguyễn, từ Minh Mạng (1820-1841) qua Thiệu Trị đến Tự Đức, ban hành hàng loạt sắc chỉ cấm đạo khốc liệt vượt xa các thời trước. Chiếu chỉ năm 1825 cấm thừa sai ngoại quốc đổ bộ; năm 1833 buộc người Công giáo bước qua thập giá để tỏ ý bỏ đạo, gọi đạo Công giáo là tà đạo, bất kính với Phật và tổ tiên; các chiếu chỉ năm 1836 và 1838 siết chặt thêm. Người có đạo bị đánh dấu chữ “tả đạo” trên mặt, làng mạc bị phá hủy, tài sản bị tịch thu, gia đình ly tán. Giới nghiên cứu hiện đại nhận định chính quyền lúc bấy giờ xem Kitô giáo như mối đe dọa an ninh quốc gia, gắn với chính sách tập trung quyền lực theo mô hình Nho giáo. Trong dòng lịch sử Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, đây là giai đoạn bách hại dữ dội nhất.
Cha Anrê Dũng bị bắt lần đầu năm 1835. Giáo dân quyên góp đủ tiền chuộc ngài về, và để tránh bị nhận diện, ngài đổi tên Dũng thành Lạc, rồi chuyển từ nơi này sang nơi khác tiếp tục sứ vụ. Ngày 10 tháng 11 năm 1839, ngài bị bắt tại Kẻ Đầm cùng cha Phêrô Trương Văn Thi, vị linh mục ngài đến thăm để xưng tội. Hai cha được chuộc ra nhưng chẳng bao lâu lại bị bắt, giải về Hà Nội chịu tra tấn, nhiều lần bị ép bước qua thập giá song vẫn một mực từ chối.
Ngày lễ Các Thánh, mồng 1 tháng 11 năm 1839, cha Trân giả dạng người làm ruộng vào ngục trao Mình Thánh Chúa cho hai cha. Ít tuần sau, quan án đưa bản án tử hình do vua Minh Mạng châu phê để các ngài ký nhận; sau khi ký, cha Dũng Lạc cao hứng làm một bài thơ gửi cho người bạn linh mục là cha Thực:
Lạc rầy đã rõ chốn quân quan
Bút chép thơ này gửi thở than.
Lòng nhớ bạn non còn vất vả
Dạ thương khách chạy chưa yên hàn.
Đông qua tiết lại thời xuân tới
Khổ tạm mai sau hưởng phúc an.
Làm kẻ anh hùng chi quản khó
Nguyện xin cùng gặp chốn thanh nhàn.
Sáng 21 tháng 12 năm 1839, quan quân công bố lệnh xử án. Hai cha hát kinh Te Deum bằng tiếng La-tinh, rồi theo đoàn ra pháp trường Ô Cầu Giấy, cha Dũng Lạc chắp tay cầu nguyện, nét mặt tươi vui. Các ngài quỳ trên chiếc chiếu giáo dân trải sẵn và lãnh án trảm quyết. Thi hài ngài được an táng tại Hà Nội; nay hài cốt ngài được lưu giữ tại Nhà thờ Chính tòa Hà Nội.
Một trăm mười bảy vị: thế kỷ chứng tá và những gương mặt tiêu biểu
Hai vị tử đạo đầu tiên trong nhóm 117 là linh mục Tế và linh mục Đậu, bị xử ngày 22 tháng 1 năm 1745; vị cuối cùng là giáo dân Phêrô Đa, tử đạo ngày 17 tháng 6 năm 1862. Trong khoảng hơn một thế kỷ ấy, thành phần các vị rất đa dạng: 96 người Việt Nam gồm 37 linh mục, 14 thầy giảng, một chủng sinh và 44 giáo dân; 11 thừa sai Tây Ban Nha đều thuộc dòng Đa Minh, gồm 6 giám mục và 5 linh mục; 10 thừa sai Pháp thuộc Hội Thừa sai Paris, gồm 2 giám mục và 8 linh mục. Trong nhóm có một bà mẹ sáu con, một em bé 9 tuổi; có người làm nghề chài lưới, thầy thuốc, binh sĩ, quan chức. Về hình thức xử án, 75 vị bị trảm quyết, 22 vị bị xử giảo, 6 vị bị thiêu sống, 5 vị bị phân thây và 9 vị chết trong ngục vì tra tấn, đói khát.
Hồ sơ phong thánh và Các Giờ Kinh Phụng Vụ đặc biệt nhắc đến một số gương mặt. Người Việt Nam có Thánh Tôma Trần Văn Thiện, chủng sinh tử đạo năm 1838; Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, linh mục tử đạo năm 1857; Thánh Emmanuel Lê Văn Phụng, người đứng đầu họ đạo và là người cha trong gia đình, tử đạo năm 1859; Thánh Phêrô Đoàn Công Quý, linh mục triều cùng chịu tử đạo với ông Phụng ngày 31 tháng 7 năm 1859 tại Châu Đốc dưới triều Tự Đức. Trong các thừa sai có Thánh Giêrônimô Hermosilla Liêm, giám quản tông tòa Đông Đàng Ngoài dòng Đa Minh, và Thánh Valentinô Berrio Ochoa, giám mục, cùng tử đạo năm 1861; có Thánh Têôphan Vênard thuộc Hội Thừa sai Paris, tử đạo năm 1861, những lá thư của ngài từ trong ngục đã gợi hứng cho Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Danh sách đầy đủ 117 vị cho thấy mỗi người một hoàn cảnh, nhưng cùng một lựa chọn: giữ vững đức tin đến cùng.
Từ tuyên chân phước đến tuyên thánh
Tiến trình tôn phong các vị trải qua bốn đợt tuyên chân phước: ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Lêô XIII tôn phong 64 vị; ngày 20 tháng 5 năm 1906, Đức Piô X tôn phong 8 vị; ngày 2 tháng 5 năm 1909, Đức Piô X tôn phong thêm 20 vị; ngày 29 tháng 4 năm 1951, Đức Piô XII tôn phong 25 vị. Ngày 18 tháng 4 năm 1986, Tòa Thánh ban sắc lệnh hợp nhất các án phong thánh thành một; sau sắc lệnh “de signis” ngày 5 tháng 6 năm 1986 xác nhận các dấu lạ liên quan đến các vị, Đức Gioan Phaolô II đã long trọng tuyên thánh cho cả 117 vị vào ngày 19 tháng 6 năm 1988.
Buổi lễ diễn ra tại Quảng trường Thánh Phêrô trước hàng nghìn tín hữu Việt Nam từ hải ngoại quy tụ về; chính quyền trong nước không cử đoàn đại diện và coi đây là hành động gây căng thẳng. Đây là nhóm đông nhất được tuyên thánh trong một buổi lễ vào thời điểm đó. Trong bài giảng, Đức Gioan Phaolô II khẳng định các vị tử đạo, trong khi trung thành với đức tin, vẫn luôn trung thành với quê hương đất nước. Ngày 14 tháng 12 năm 1990, qua tông thư “Si quidem cunctis”, ngài đặt các Thánh Tử Đạo Việt Nam làm bổn mạng đất nước Việt Nam.
Lễ kính ngày 24 tháng 11 và lòng tôn kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam
Giáo hội ấn định lễ kính chung các Thánh Tử Đạo Việt Nam vào ngày 24 tháng 11, ngày mà ba vị trong nhóm đã đổ máu vì đạo. Tại Việt Nam, Hội đồng Giám mục quyết định dời lễ kính sang ngày Chúa nhật liền trước hoặc liền sau ngày 24 tháng 11, để giáo dân có dịp tham dự đông đủ hơn. Riêng Thánh Anrê Dũng Lạc còn được kính nhớ vào ngày 21 tháng 12, ngày ngài chịu tử đạo.
Lòng tôn kính các vị lan rộng khắp các giáo phận. Vương cung thánh đường Sở Kiện ở Hà Nam là trung tâm hành hương kính các Thánh Tử Đạo; nhiều nhà thờ, giáo xứ và cộng đoàn nhận các ngài làm bổn mạng. Hài cốt và di tích của một số vị được gìn giữ cẩn thận, như hài cốt Thánh Anrê Dũng Lạc tại Nhà thờ Chính tòa Hà Nội, để các thế hệ sau chiêm ngắm.
Tertullianô từng viết rằng máu các vị tử đạo là hạt giống sinh ra các Kitô hữu. Tại Việt Nam, lời ấy ứng nghiệm rõ rệt: sau những thập niên bách hại khốc liệt nhất, Giáo hội không lụi tàn mà còn bén rễ sâu, để mảnh đất từng đổ máu vì đạo sinh ra một trong những cộng đoàn Công giáo đông đảo và sống động tại Á châu ngày nay.


