Thánh Đamasô I (khoảng 305-384)

Vericath AI

Đang phân tích
  • Thánh Đamasô I làm Giáo hoàng từ năm 366 đến 384, nổi bật với việc bảo vệ chính thống đức tin và chống lại các lạc giáo thời kỳ đầu.
  • Ngài là người ủy thác cho Thánh Giêrônimô thực hiện bản dịch Kinh Thánh Vulgata bằng tiếng Latinh, nền tảng Kinh Thánh của Giáo hội Tây phương suốt hơn một ngàn năm.
  • Đamasô I có công lớn trong việc tôn kính các thánh tử đạo, trùng tu các hầm mộ Rôma và để lại nhiều văn bia thơ ca đầy nghệ thuật.
  • Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên gọi Tòa Rôma là “Tòa Thánh Tông đồ” và khẳng định quyền tối thượng của giám mục Rôma đặt trên sự kế vị Thánh Phêrô.
Top Questions

Thánh Đamasô I sinh khoảng năm 304 hoặc 305 và ngài giữ ngai tòa Thánh Phêrô trong mười tám năm hai tháng (từ năm 366 đến 384).

Ngài đã ủy thác cho Thánh Giêrônimô hiệu đính và dịch thuật để tạo ra bản Vulgata, bản Kinh Thánh tiếng Latinh trở thành văn bản chuẩn của Giáo hội Tây phương suốt hơn một ngàn năm.

Giáo hội mừng kính Thánh Đamasô I vào ngày 11 tháng 12 hằng năm, và ngài được tôn vinh là bổn mạng của các nhà khảo cổ.

Trong số các vị giáo hoàng của thế kỷ IV, Thánh Đamasô I giữ một vị trí riêng biệt. Trong mười tám năm hai tháng trên ngai tòa Thánh Phêrô (366-384), ngài bảo vệ chính thống đức tin giữa cơn bão lạc giáo, khắc bia thơ lên mộ các thánh tử đạo, và đặt nền móng cho bản Kinh Thánh Latinh được Giáo hội dùng suốt hơn một thiên niên kỷ. Đời ngài mở đầu bằng một cuộc bầu chọn đẫm máu và khép lại trong hương thơm thánh thiện. Giáo hội mừng lễ kính ngài vào ngày 11 tháng 12 hằng năm.

Tuổi trẻ bên nhà thờ Thánh Lôrensô

Đamasô chào đời khoảng năm 304 hoặc 305, có lẽ tại thành Rôma. Cha ngài là Antôniô, người gốc Tây Ban Nha, đã trải qua các cấp bậc giáo sĩ để trở thành linh mục coi sóc nhà thờ tước hiệu Lucina, về sau là vương cung thánh đường Thánh Lôrensô. Chính Đamasô đã làm chứng về hành trình của cha mình trong một bài thơ. Mẹ ngài tên là Laurensia, và ngài có một người em gái tên là Irênê.

Năm 355, khi hoàng đế Constantiô II đày Giáo hoàng Libêriô sang Bêrêa, Đamasô với tư cách phó tế đã tháp tùng ngài vào chốn lưu đày, nhưng rồi sớm trở về Rôma. Trong thời gian Libêriô vắng mặt, hoàng đế dựng lên giáo hoàng đối lập Fêlix II, và Đamasô cùng phần lớn giáo sĩ Rôma đành đứng về phía Fêlix. Khi Libêriô được phục hồi, Đamasô quay lại hiệp thông với vị giáo hoàng hợp pháp, và sự hòa giải trở nên trọn vẹn sau khi Fêlix qua đời ngày 22 tháng 11 năm 365.

Cuộc bầu chọn đẫm máu năm 366

Giáo hoàng Libêriô qua đời ngày 24 tháng 9 năm 366. Đa số giáo sĩ và giáo dân Rôma bầu chọn Đamasô, và ngài được tấn phong ngày 1 tháng 10 tại vương cung thánh đường Latêranô bởi giám mục thành Ostia. Nhưng một nhóm thiểu số trung thành với Libêriô không tha thứ cho việc Đamasô từng ngả theo Fêlix. Họ bầu phó tế Ursinô và cho tấn phong ông này một cách bất hợp thức bởi Phaolô, giám mục thành Tibur, tại nhà thờ Santa Maria in Trastevere.

Những gì xảy ra sau đó là một trong những trang đen tối nhất của lịch sử giáo hoàng. Phe Đamasô đánh bật phe Ursinô khỏi vương cung thánh đường Julia với nhiều thương vong, rồi cuối tháng 10 lại một trận đẫm máu nữa tại vương cung thánh đường Libêriô trên đồi Esquilino. Sử gia ngoại giáo Ammianus Marcellinus ghi lại rằng trong một ngày người ta tìm thấy 137 thi thể trong vương cung thánh đường Sicinino. Quan thái thú Viventiô đứng về phía Đamasô và ra lệnh đày Ursinô cùng hai phó tế Amantiô và Lupus.

Được hoàng đế Valentinianô cho phép, nhóm Ursinô trở lại Rôma vào tháng 9 năm 367, bạo lực lập tức tái diễn, và cuối năm đó Ursinô lại bị đày sang xứ Gallia. Khi Đamasô xin công đồng họp nhân lễ sinh nhật của ngài vào tháng 9 năm 368 chuẩn y những biện pháp đã làm, họ trả lời lạnh lùng: “Chúng tôi họp nhau để mừng sinh nhật, chứ không phải để kết án một người chưa được nghe trình bày.”

Được phép trở lại Ý trong khoảng năm 370 đến 372 với điều kiện không được đến gần Rôma, phe Ursinô đóng bản doanh tại Milanô và nhận được sự hậu thuẫn của phe Ariô. Họ xúi giục một người Do Thái cải đạo tên là Isaac tố cáo Đamasô phạm tội ngoại tình và đưa ngài ra trước tòa án. Đamasô được minh oan hoàn toàn: hoàng đế Gratianô tự mình tuyên bố ngài vô tội, và một công đồng gồm bốn mươi bốn giám mục họp tại Rôma cũng minh oan cho ngài, đồng thời vạ tuyệt thông những kẻ vu cáo. Ursinô bị đày sang Côlônha, Isaac bị đày sang Tây Ban Nha. Sử gia Socrates thành Constantinople nhận xét thẳng thắn rằng cuộc tranh chấp này chẳng liên quan gì đến đức tin hay lạc giáo, mà chỉ là chuyện ai sẽ ngồi lên ngai giám mục Rôma.

Người bảo vệ chính thống đức tin

Vượt qua những năm tháng đầu đầy sóng gió, Đamasô dồn sức vào cuộc chiến bảo vệ đức tin. Tại hai công đồng họp ở Rôma năm 368 và 369, ngài kết án lạc giáo Apollinariô (cho rằng Đức Kitô không có linh hồn con người) và lạc giáo Macedoniô (chối bỏ thần tính Chúa Thánh Thần). Ngài cũng mạnh tay với những người theo Luciferô thành Cagliari, cho đày các lãnh đạo giáo sĩ của họ.

Công đồng Rôma năm 378 còn ban hành một sắc lệnh quy định từ nay các giám mục chỉ bị xét xử bởi một tòa án gồm các giám mục đồng nghiệp, và nguyên tắc này phải được áp dụng trước hết cho chính giám mục Rôma.

Quan hệ với Giáo hội Đông phương phức tạp hơn nhiều. Cuộc đàm phán kéo dài với Thánh Basiliô thành Cêsarêa bị che mờ bởi sự hiểu lầm lẫn nhau về cách dùng thuật ngữ Ba Ngôi giữa Rôma và Đông phương. Sau khi Basiliô qua đời, Công đồng Antiôkia năm 379 chấp nhận các công thức đức tin của Đamasô, nhưng vị chủ tịch công đồng là Mêlêtiô rõ ràng không có thiện cảm với vị giáo hoàng từng ủng hộ đối thủ của mình là Paulinô. Đamasô tiếp tục đứng về phía Paulinô sau khi Mêlêtiô qua đời năm 381, và từ chối công nhận Flavianô kế vị.

Ngài không tham dự Công đồng Constantinople I năm 381, dù có gửi các đặc sứ đến đó. Điều 3 của công đồng này đặt quyền ưu tiên thứ hai của giám mục “Rôma mới”, tức Constantinople, trên một nguyên tắc thuần túy chính trị, điều mà Rôma không thể chấp nhận. Tại Công đồng Rôma năm 382, Đamasô khẳng định bằng những lời lẽ không thể nhầm lẫn rằng quyền tối thượng của giám mục Rôma đặt nền hoàn toàn trên sự kế vị Thánh Phêrô. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên gọi Tòa Rôma bằng danh xưng “Tòa Thánh Tông đồ”.

Ngài ủng hộ việc dời bàn thờ Nữ thần Chiến thắng khỏi Viện Nguyên lão và đón mừng sắc chỉ “Cunctos populos” năm 380 của hoàng đế Thêôđôsiô I, tuyên bố đức tin Công giáo là tôn giáo của nhà nước. Trong suốt triều đại, ngài kiên trì bảo vệ tín điều đã được Công đồng Nicêa tuyên xưng trước mọi hình thức xuyên tạc.

Thánh Giêrônimô và bản Kinh Thánh Vulgata

Di sản bền vững nhất của Đamasô gắn liền với một cái tên: Thánh Giêrônimô. Được mời đến Rôma dự công đồng năm 382, vị học giả người Stridon nhanh chóng trở thành thư ký riêng và cố vấn thân cận của giáo hoàng trong ba năm 382-385. Nhận thấy các bản dịch Latinh Kinh Thánh đang lưu hành ở phương Tây khác nhau quá nhiều, Đamasô ủy thác cho Giêrônimô hiệu đính lại bản dịch Latinh Tân Ước dựa trên nguyên văn Hy Lạp, rồi sau đó là Cựu Ước dựa trên bản Bảy Mươi và nguyên văn Hípri. Công trình ấy chính là bản Vulgata, bản Kinh Thánh Latinh trở thành văn bản chuẩn của Giáo hội Tây phương suốt hơn một ngàn năm.

Cũng tại Công đồng Rôma năm 382, dưới quyền chủ tọa của Đamasô, Giáo hội công bố danh mục chính thức các sách Kinh Thánh, thường được gọi là Sắc lệnh của Đamasô, về sau được sao lại trong Sắc lệnh Gêlasiô. Dưới triều ngài, tiếng Latinh thay thế tiếng Hy Lạp để trở thành ngôn ngữ phụng vụ chính tại Rôma.

Nhà thơ khắc bia bên mộ các thánh tử đạo

Với lòng sùng kính các thánh tử đạo, Đamasô cho trùng tu các hầm mộ Rôma, khơi thông những mạch nước ngầm ở Vatican đang ngập lụt các phần mộ, rồi trang trí mộ các ngài bằng những bia văn thơ do chính ngài sáng tác. Các bài thơ được khắc trên phiến đá cẩm thạch bằng kiểu chữ đặc biệt do nhà thư pháp Furius Dionysius Philocalus sáng tạo, với những nét serif mảnh mai uốn lượn rất dễ nhận ra. Học giả Dennis Trout nhận định thơ của Đamasô là tập văn bản cổ xưa nhất dành riêng cho việc tôn kính các thánh.

Nổi tiếng nhất là dòng chữ ngài cho khắc tại nhà rửa tội Latêranô: “una Petri sedes, unum verumque lavacrum”, nghĩa là chỉ có một Tòa Thánh Phêrô, chỉ có một phép rửa chân thật. Còn cho chính mình, ngài viết một bia văn đầy khiêm nhường đặt tại hầm mộ dành cho các giáo hoàng: “Tôi, Đamasô, đã muốn được chôn cất nơi đây, nhưng tôi sợ xúc phạm đến tro cốt của các thánh này.” Thay vào đó, ngài chọn an nghỉ bên cạnh mẹ và em gái.

Song song với việc tôn vinh các thánh tử đạo, Đamasô cho trùng tu nhà thờ Thánh Lôrensô của cha mình, ngôi nhà thờ mang tên San Lorenzo in Damaso cho đến ngày nay.

Những năm cuối đời và di sản

Thánh Đamasô I qua đời ngày 11 tháng 12 năm 384, hưởng thọ gần tám mươi tuổi. Theo ý nguyện khiêm nhường lúc sinh thời, ngài được an táng bên cạnh mẹ là Laurensia và em gái Irênê trong một nhà nguyện tang lễ nằm đâu đó giữa đường Appia và đường Ardeatina, mà vị trí chính xác nay đã mất dấu.

Giáo hội mừng lễ kính ngài vào ngày 11 tháng 12 và tôn vinh ngài là bổn mạng của các nhà khảo cổ, một tước hiệu xứng đáng cho vị giáo hoàng đã dành bao tâm huyết cho các hầm mộ. Công đồng chung Chalcedon gọi ngài là “vinh dự và vinh quang của Rôma”, còn sử gia Theodoret ca ngợi đời sống thánh thiện cùng lòng nhiệt thành bảo vệ đạo lý tông truyền của ngài. Từ một cuộc bầu chọn khởi đầu bằng bạo lực, Đamasô đã để lại cho Giáo hội bản Kinh Thánh Latinh, những bia thơ tôn vinh các chứng nhân đức tin, và một Tòa Thánh ý thức rõ rệt về căn tính tông đồ của mình.

×

Trích dẫn

Mặc dù chúng tôi đã cố gắng tuân thủ các quy tắc về kiểu trích dẫn, có thể sẽ có một số sai sót. Vui lòng tham khảo cẩm nang về kiểu tương ứng hoặc các nguồn khác nếu bạn có câu hỏi.

×

Nội dung

Vericath AI › Thánh Đamasô I (khoảng 305-384)
×
Xin chào! Tôi là trợ lý AI của Vericath. Bạn có câu hỏi gì về bài viết "Thánh Đamasô I (khoảng 305-384)" hay về Công giáo không?
AI đang nghĩ
Vericath App

Cài đặt Vericath

Truy cập nhanh chóng và trải nghiệm mượt mà hơn trên màn hình chính của bạn.

Home