Các Vua quyển I và II: từ hoàng kim đến suy tàn
Vericath AI
- Hai sách Các Vua ghi lại lịch sử Israel từ thời hoàng kim của vua Salomon đến thời kỳ suy tàn, chia rẽ, lưu đày và hủy diệt.
- Quyển I ca ngợi sự khôn ngoan và công trình xây dựng đền thờ của vua Salomon, nhưng cuối đời ông đã phạm sai lầm khi thờ ngẫu tượng, khiến vương quốc bị chia rẽ.
- Quyển II kể về sự suy vong của hai vương quốc (Israel và Giuđa) do bất tuân Thiên Chúa, dẫn đến việc bị Assyria và Babylon tiêu diệt và lưu đày.
- Sứ vụ của các ngôn sứ như Elia và Elisa đóng vai trò quan trọng trong việc kêu gọi dân chúng quay về với Thiên Chúa.
- Dù trải qua đau khổ và hủy diệt, sách Các Vua vẫn kết thúc trong niềm hy vọng nhờ vào số sót trung tín và chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Hai sách Các Vua ghi lại lịch sử Israel từ đỉnh cao dưới triều đại Salomon, qua thời kỳ suy tàn, chia rẽ, nội chiến cho đến cảnh lưu đày và hủy diệt, được nhìn qua lăng kính thiêng liêng và ngôn sứ.
Ba sai lầm của Salomon là: có quá nhiều vợ, thờ quá nhiều thần ngoại giáo, và để các bà vợ chọn thần cho mình thay vì để Thiên Chúa hướng dẫn.
Elia sống đơn độc, nhấn mạnh luật lệ và sám hối (tiên báo Gioan Tẩy Giả), trong khi Elisa sống giữa dân chúng, nhấn mạnh đức tin và ân sủng (mang hình ảnh của Đức Kitô).
Hai sách Các Vua, nguyên thủy là một trong quy điển Do Thái, ghi lại lịch sử Israel từ đỉnh cao, triều đại Salomon, qua thời suy tàn, chia rẽ, nội chiến, hư hỏng, lưu đày và hủy diệt. Đây không phải là tiểu sử các vua hay lịch sử chính trị, mà là lịch sử thiêng liêng: một sự giải thích ngôn sứ về những nguyên nhân thiêng liêng vô hình đã dẫn đến sự suy tàn và sụp đổ chính trị hữu hình của Israel, một bài chú giải lịch sử về điều răn thứ nhất, vĩ đại nhất và thiết thực nhất. Khi Israel ưu ái các thần khác, Thiên Chúa ưu ái các dân tộc khác. Các quốc gia cũng không thể thoát khỏi trật tự luân lý và thiêng liêng hơn cá nhân. Thiên Chúa không có tiêu chuẩn kép.
Quyển I: triều Salomon, đỉnh cao của thời hoàng kim Israel
Kinh Thánh gọi Salomon là vị vua vĩ đại nhất và là người khôn ngoan nhất trên đời, vì sự khôn ngoan của ông không chỉ từ loài người, mà từ Thiên Chúa.
Ngay sau khi Salomon nhận được ơn khôn ngoan từ Thiên Chúa, sự khôn ngoan ấy được thử thách và tỏ hiện qua vụ xử giữa hai người đàn bà cùng tranh một đứa trẻ (chương 3). Salomon xoay chuyển tình thế: thay vì bị tình huống thử thách, ông thử thách họ để khám phá ai là mẹ thật, cũng như Đức Giêsu đã làm mỗi khi Ngài dường như bị các đối thủ gài bẫy. “Toàn thể Israel nghe biết… đều kính nể vua, vì thấy rằng Thiên Chúa đã ban cho vua sự khôn ngoan để xét xử” (3,28).
Trong nhiều thế kỷ sau Salomon, các tác giả Do Thái vô danh thường ký tên sách của mình là “Salomon”. Salomon có lẽ đã viết phần lớn sách Châm Ngôn. Nhưng các tác giả sách Diễm Ca, sách Giảng Viên và sách Khôn Ngoan, dù đều tự xưng là Salomon, rất có thể đã viết sau ông nhiều thế kỷ, dùng tên Salomon để chỉ thầy và mẫu mực của mình. Một truyền thống Do Thái cho rằng Salomon viết Diễm Ca lúc trẻ, Châm Ngôn lúc trung niên, và Giảng Viên lúc về già: Diễm Ca ca ngợi tình yêu tuổi trẻ cách lý tưởng, Châm Ngôn là sự khôn ngoan thực tế của tuổi trưởng thành, và Giảng Viên tỏ hiện sự vỡ mộng của tuổi già Salomon, khi ông đã quay lưng khỏi nguồn của khôn ngoan, “kính sợ Đức Chúa là khởi đầu của khôn ngoan”.
Điều đầu tiên Salomon làm với sự giàu có của mình là xây nhà cho Thiên Chúa: đền thờ vĩ đại, một công trình của tình yêu. Dân Israel coi đây là công trình giàu có và đẹp đẽ nhất trên đời, vì nó không dành cho con người mà dành cho Thiên Chúa. Trong chương trình quan phòng của Thiên Chúa, đền thờ của Salomon phải vĩ đại vì nó là hình ảnh của Đức Kitô, Đấng đã ví thân thể mình với đền thờ khi nói: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2,19). Nhưng hình ảnh lu mờ trước thực tại được tượng trưng: Đức Kitô cũng nói: “Tôi nói cho các ông hay: ở đây còn lớn hơn Đền Thờ nữa” (Mt 12,6). Trên trời, chính Ngài sẽ là đền thờ của chúng ta (xem Kh 21,22).
Về cuối đời, các bà vợ ngoại giáo đã khiến lòng Salomon quay khỏi việc thờ phượng Thiên Chúa để thờ ngẫu tượng, và vị vua có trái tim chia rẽ để lại phía sau một vương quốc chia rẽ. Salomon đã phạm ba sai lầm: quá nhiều đàn bà, quá nhiều thần, và quan trọng nhất, ông để đàn bà của mình chọn thần cho mình thay vì để Thiên Chúa của mình chọn đàn bà cho mình.
Quyển II: Israel chia rẽ lạc đường
Sau khi Salomon qua đời, nội chiến dưới thời Rôbôam, người con trai thiếu khôn ngoan của ông, chia đất nước làm hai. Không bao giờ Israel còn đạt được hòa bình, vinh quang và sự thống nhất như dưới thời Salomon nữa. Quyển II ghi lại lịch sử của cả hai vương quốc trên con dốc trơn trượt dẫn đến hủy diệt. Các chương 1 đến 17 gây rối rắm vì chúng ghi lại hai loạt vua, xen kẽ nhau, của hai vương quốc. Vương quốc phía bắc bị Assyria tiêu diệt năm 722 trước Công Nguyên (chương 17), và Giuđa bị Babylon tiêu diệt năm 586 trước Công Nguyên (chương 25). Mười chín vua gian ác liên tiếp cai trị Israel, tất cả đều thờ ngẫu tượng tại Bêten; có chín triều đại riêng biệt, và tám trong số đó lên nắm quyền bằng cách ám sát vua tiền nhiệm. Ở Giuđa chỉ có một triều đại, nhà Đavít, mà Thiên Chúa đã hứa sẽ tồn tại cho đến Đấng Mêsia. Tám trong hai mươi vua của Giuđa là vua tốt, và Giuđa tồn tại lâu hơn Israel 136 năm. Hai sự kiện ấy được tác giả ngôn sứ giải thích như nguyên nhân và hậu quả. Nhưng ngay cả các vua tốt của Giuđa cũng không dẹp bỏ việc thờ ngẫu tượng. Vì thế Thiên Chúa đã để Nabucôđônôsor phá hủy đền thờ và thành thánh Giêrusalem. Khi đền thờ không còn là nơi thờ phượng Thiên Chúa thật, nó không còn được Thiên Chúa gìn giữ nữa.
Số sót của dân Do Thái, đã mất quốc gia, mất tự do, mất thành thánh và mất đền thờ, bị lùa đi 900 dặm đường vào cảnh lưu đày ở Babylon. Hãy đọc Tv 137 để thấy họ đã cảm thấy thế nào. Trong thời kỳ giữa Salomon và cuộc lưu đày (thời vương quốc chia rẽ), hầu hết các ngôn sứ lớn đã sống và giảng dạy: Elia, Elisa, Amos và Hôsê ở Israel; Isaia, Giêrêmia, Giôen, Mikha và các vị khác ở Giuđa. Sức khỏe thiêng liêng của quốc gia tùy thuộc vào việc lắng nghe Lời Thiên Chúa qua các ngôn sứ ấy, và sức khỏe chính trị của quốc gia lại tùy thuộc vào sức khỏe thiêng liêng của nó. Điều ấy hẳn cũng đúng hôm nay đối với Hội Thánh và thế giới.
Hai ngôn sứ lớn tiên báo Gioan Tẩy Giả và Đức Kitô
Trong hai sách Các Vua, chúng ta thấy sứ vụ của Elia, một trong những ngôn sứ vĩ đại nhất mọi thời. Trong Tân Ước, ông là hình ảnh tiên báo Gioan Tẩy Giả, Đấng mà Đức Giêsu gọi là vĩ đại nhất (Mt 11,11.14). Giống như Đức Kitô, Elia đã lên trời trên xe lửa và hiện ra trên núi Biến Hình cùng Môsê (Mt 17). Nhưng Elisa, người kế vị Elia, lại giống Đức Kitô hơn: Elia sống đơn độc như Gioan Tẩy Giả; Elisa sống giữa dân chúng như Đức Kitô. Elia nhấn mạnh luật lệ, sám hối và phán xét; Elisa nói nhiều hơn về đức tin, ân sủng và hy vọng.
Ngay cả khi tội lỗi dường như thắng thế, nó cũng không thắng. Thiên Chúa mới thắng. Như thánh Thomas More đã nói: “Thời thế không bao giờ tệ đến nỗi một người tốt không thể sống trong đó.” Một trong những biến cố gây ấn tượng mạnh nhất trong đời hai vị ngôn sứ là khả năng Elisa nhìn thấy các thiên thần: đạo binh của Chúa bao quanh đạo binh của kẻ thù đang bao vây Israel. Đó là một thị kiến mà chúng ta hôm nay chắc chắn cần lấy lại.
Sách Các Vua quyển II kết thúc với một nốt hy vọng, bất chấp chương cuối khủng khiếp mô tả sự hủy diệt hoàn toàn của Giêrusalem và đền thờ. Dù dân được Thiên Chúa tuyển chọn bị tàn phá, chương trình của Thiên Chúa không bị tàn phá. Như thời Nôê, một số sót trung tín nhỏ bé luôn còn lại. Người Do Thái có một truyền thuyết rằng trong mọi thời của lịch sử luôn có mười hai người tốt đang sống; họ cứu thế giới khỏi án phạt của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã sẵn lòng tha cho Sôđôma chỉ vì mười người; có lẽ chỉ cần thêm một người nữa là đủ. Có lẽ người ấy chính là bạn.
Dựa theo: Peter Kreeft, You Can Understand the Bible, Ignatius Press, 2005.


